UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Tâm linh

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Phật tính là gì?
Old 04-12-2009, 8:53 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default Phật tính là gì?
Phật tính hay Thiên tính là một trong những thuộc tính phổ quát của muôn vật từ bé đến lớn, trong số đó có mọi sinh vật và đặc biệt là con người. Ở đây là một bài thuyết giảng của Đạo Sư Osho - một vị Phật - về Phật tính hay vị Phật là gì? Dĩ nhiên, để hiểu được vấn đề này không phải đơn giản!




PHẬT TÍNH LÀ GÌ?

Vị Phật là ai? Hay Phật tính là gì? Chừng nào bạn còn chưa có quan niệm rõ ràng về điều đó, sẽ khó mà hiểu được lời của Phật. Để hiểu những lời này, bạn sẽ phải hiểu cội nguồn từ đâu chúng nảy sinh. Để hiểu hoa, bạn sẽ phải hiểu rễ. Chừng nào bạn còn chưa hiểu rễ, bạn có thể ca ngợi hoa, nhưng bạn sẽ không có khả năng hiểu nó.

Vị Phật là ai? Hay Phật tính là gì? Từ 'Phật' nghĩa là nhận biết thuần khiết, trạng thái của nhận biết tuyệt đối. Vị Phật không phải là người mà là một trạng thái - trạng thái tối thượng, việc nở hoa tối thượng. Phật chẳng có liên quan gì tới Phật Thích Ca. Trước Phật Thích Ca đã có nhiều chư Phật, và sau Phật Thích Ca cũng đã có nhiều chư phật. Phật Thích Ca chỉ là một người đã đạt tới tâm thức tối thượng đó.

Từ 'Phật' cũng giống như từ “Christ”. Jesus chỉ là một trong các Christ - những người đã đạt tới việc nở hoa tối thượng. Đã có nhiều Christ và sẽ có nhiều. Hãy nhớ điều đó - rằng Phật tính không phải là theo bất kì con đường nào được hạn chế bởi Phật Thích Ca. Ngài chỉ là một ví dụ về Phật tính là gì.

Bạn thấy một bông hồng. Nó không phải là bông hồng, nó chỉ là một trong các bông hồng. Hàng triệu bông đã tồn tại trước đó, hàng triệu bông đang tồn tại ngay bây giờ, hàng triệu bông sẽ tồn tại trong tương lai. Nó đơn giản là một đại diện. Bông hồng này đơn giản là một đại diện của tất cả các bông hồng đã từng, đang và sẽ có.

Vị Phật không được xác định bởi cá tính của Ngài. Ngài được xác định bởi trạng thái tối thượng của bản thể Ngài, cái vượt ra ngoài cá tính. Và khi vị Phật nói, Ngài không nói như một người. Ngài nói qua nhận biết tối thượng của mình. Người ta nói rằng Ngài nói là không đúng. Không có ai để nói, không có cái ngã trong ngài để nói. Và thực tế Ngài chẳng có gì để nói cả. Ngài đơn giản đáp ứng. Cũng như bạn đi và bắt đầu hát trong thung lũng, thung lũng đáp lại. Thung lũng đơn giản vọng lại bạn.

Khi bạn tới vị Phật, Ngài đơn giản soi gương bạn. Bất kì điều gì Ngài nói cũng chỉ là sự phản chiếu. Nó là câu trả lời cho bạn, nhưng Ngài chẳng có gì để nói về mình. Nếu vị Phật khác tới Ngài, họ cả hai sẽ vẫn còn tuyệt đối im lặng, hai tấm gương đối diện nhau... chẳng cái gì sẽ được phản chiếu. Các tấm gương sẽ phản chiếu lẫn nhau, nhưng không cái gì sẽ được phản chiếu. Hai tấm gương - hãy nghĩ về hai tấm gương đối diện nhau. Nếu Christ tới gặp Phật, hay Phật ở đâu đó trên các nẻo đường cuộc sống mà bắt gặp Lão Tử, họ sẽ tuyệt đối im lặng - sẽ không có tiếng vọng.

Cho nên khi Phật nói, hãy nhớ điều đó. Ngài không nói gì đặc biệt. Ngài đơn giản phản chiếu mọi người. Đó là lí do tại sao vị Phật không bao giờ có thể rất nhất quán. Triết gia có thể rất nhất quán. Ông ta có cái gì đó để nói. Ông ta nhớ điều đó, ông ta bám vào điều đó, ông ta chưa bao giờ nói cái gì đi ngược lại điều đó... Ông ta xoay xở. Vị Phật nhất định là mâu thuẫn bởi vì mỗi lần ai đó đối diện với Ngài, cái gì đó khác sẽ nảy sinh. Điều đó sẽ tuỳ thuộc vào người đối diện với Ngài.

Điều đó cũng giống như tấm gương. Nếu bạn tới trước tấm gương, nó là khuôn mặt của bạn. Ai đó khác tới, thế thì nó là khuôn mặt của người đó. Khuôn mặt sẽ cứ thay đổi. Bạn không thể nói với tấm gương, “Anh rất không nhất quán. Lúc thì anh hiện khuôn mặt đàn bà, lúc thì hiện khuôn mặt đàn ông, lúc thì khuôn mặt đẹp, lúc thì khuôn mặt xấu”. Tấm gương sẽ đơn giản giữ im lặng thôi. Nó có thể làm gì được? Nó đơn giản phản chiếu. Nó phản chiếu bất kì cái gì đang đó.

Cho nên lời Phật là rất mâu thuẫn. Jesus mâu thuẫn, Phật mâu thuẫn, Krishna mâu thuẫn, Lão Tử cực kì mâu thuẫn. Hegel không mâu thuẫn, Kant không mâu thuẫn, Russell không mâu thuẫn, Khổng Tử không mâu thuẫn, Manu không mâu thuẫn. Họ có giáo điều nào đó. Họ không phản chiếu bạn. Họ có cái gì đó để nói. Họ cứ nói. Họ không như tấm gương, họ giống như ảnh chụp. Nó chẳng bận tâm bạn là ai; nó vẫn còn như vậy. Nó chết. Nó có định nghĩa và hình dạng rõ ràng.

Phật tính là nhận biết vô hình dạng. Hãy nhớ điều đó, bằng không nhiều lần bạn sẽ bắt gặp mâu thuẫn và bạn sẽ không có khả năng hình dung ra cái gì đang xảy ra.

Khi Phật chết, lập tức có nhiều tranh cãi, và các tín đồ chia thành nhiều giáo phái. Bởi vì ai đó đã nghe Phật nói điều này, và ai đó đã nghe điều gì đó tuyệt đối mâu thuẫn với nó. Cho nên không có khả năng nào. Làm sao một người có thể nói được tất cả những điều đó? Cho nên, ai đó phải nói dối... và mọi người bắt đầu phân chia ra. Họ phân chia ra thành nhiều trường phái. Phật bị cắt xén. Ai đó mang tay Ngài, ai đó mang đầu Ngài, ai đó mang chân Ngài - nhưng Ngài không còn là hiện tượng sống nữa.
Bây giờ, những triết lí này rất nhất quán... rất nhất quán, rất logic - nhưng chết. Vị Phật không phải là triết gia, Ngài không phải là người hệ thống hoá. Vị Phật không logic theo bất kì cách nào. Ngài đơn giản sống động, và Ngài phản chiếu mọi thứ đang đó.

Cho nên khi bạn tới một vị Phật, Ngài trả lời bạn. Ngài không có câu trả lời cố định để trao cho bạn, Ngài trả lời bạn. Ngài không có khuôn mặt công cộng. Mọi khuôn mặt của Ngài đều riêng tư và chúng phụ thuộc vào bạn. Nếu bạn mang khuôn mặt đẹp tới cho Ngài, bạn sẽ thấy khuôn mặt riêng của mình được phản chiếu. Và nếu bạn tới mà không có khuôn mặt nào... thuần khiết, tựa tấm gương... chẳng cái gì sẽ được phản chiếu. Thế thì Phật biến mất, Ngài chẳng có gì để nói cả.

Những người đã sống cùng Phật, họ biết. Khi họ có tâm trí riêng của mình, những tâm trí đó được phản chiếu trong Ngài. Khi tâm trí họ bị loại bỏ, họ thực sự trở thành thiền nhân, và khi họ nhìn vào Phật chẳng có ai cả... chỉ cái trống rỗng, thung lũng, im lặng thuần khiết, hồn nhiên nguyên thuỷ - nhưng không có ai ở đó cả.

Những lời này được thu thập lại, được biên soạn, bởi trường phái nào đó. Chúng rất nhất quán. Nhiều lời đã bị loại bỏ, những lời dường như mâu thuẫn. Nhiều lời đã không được đưa vào, những lời mơ hồ. Những lời này đã được thu thập lại bởi một trường phái đặc biệt. Về sau tôi sẽ thảo luận về các nguồn khác, và nhiều lần bạn sẽ bắt gặp những mâu thuẫn. Hãy nhớ điều đó.

Và những người ở gần tôi, họ phải hiểu điều này, tuyệt đối rõ ràng, bởi vì tôi sẽ tự mâu thuẫn mọi ngày. Điều đó tuỳ thuộc vào bầu khí hậu. Điều đó còn tuỳ... Nếu thời tiết nhiều mây, tôi nhiều mây. Nếu mặt trời chiếu sáng và trong trẻo, tôi là cách đó.

Bạn không chỉ tới tôi với những câu hỏi, bạn còn tới với những câu trả lời. Có thể câu trả lời còn chưa được biết tới với bạn, có thể câu trả lời còn bị giấu kín trong vô thức của bạn, ẩn núp đâu đó trong bóng tối của linh hồn bạn. Câu hỏi là ý thức, câu trả lời là vô ý thức. Chức năng của tôi là làm cho câu trả lời của bạn thành hiển nhiên rõ ràng cho bạn, đem nó ra ánh sáng. Tôi nhất định phải mâu thuẫn.

Tôi không phải là người công cộng. Tôi không quan tâm tới đám đông. Tôi chỉ quan tâm tới các đệ tử và người say mê. Điều đó nghĩa là tôi chỉ quan tâm tới mối quan hệ thân thiết. Tôi quan tâm tới bạn, và bất kì cái gì tôi nói với bạn đều được nói cho bạn và không liên quan tới người khác. Khi tôi nói một cách cá nhân, thế thì tôi đang nói với một người đặc biệt. Với người khác điều đó có thể không liên quan. Cho dù là cùng người đó, điều đó không liên quan vào ngày mai, bởi vì người đó sẽ thay đổi.
Cuộc sống liên tục thay đổi. Và tôi chỉ nhất quán với cuộc sống chứ không cái gì khác. Cho nên tôi nhất định mâu thuẫn. Cho nên nếu đôi khi bạn bắt gặp mâu thuẫn, đừng vội vã, và đừng cố gắng hình dung ra bằng cách nào đó, và đừng cố gắng sửa lại chúng. Cứ để chúng như chúng vậy.

Một người như Phật phải mâu thuẫn. Ngài phải chứa tất cả mọi mâu thuẫn bởi vì Ngài chứa tất cả các khả năng của nhân loại. Ngài chứa tất cả mọi câu hỏi có thể có và mọi câu trả lời có thể có. Ngài chứa tất cả bề mặt có thể có và tất cả các pha có thể có. Ngài chứa toàn thể quá khứ của nhân loại, hiện tại và tương lai.

Đó là nghĩa khi Phật nói, “Khi ông đã tới nhà, kho bản thể bên trong nhất của ông chói sáng, tất cả sẽ được biết - tất mọi điều quá khứ, hiện tại và tương lai. Không cái gì còn lại không được biết. Trong việc biết đó mọi thứ đều được hiển lộ”. Nhưng mọi thứ... và các thứ đều không nhất quán.

Đó là cái đẹp của thế giới - rằng mọi sự đều không nhất quán. Mọi thứ đều có phẩm chất khác nhau, cá tính khác nhau. Mọi thứ đều là sự hiện hữu theo cách riêng của chúng, và Phật đơn giản phản chiếu... sự phản chiếu, tấm gương.

Những lời này bao giờ cũng bắt đầu bởi Phật nói. Hãy nhớ điều đó. Khi điều đó được Phật nói, điều đó đơn giản nghĩa là Ngài chẳng có gì để nói cả. Ngài phản xạ, Ngài phản xạ lại bạn. Ngài đơn giản biểu lộ cho bạn, bạn là ai. Ngài hiển lộ bạn cho bản thân bạn. Ngài đem bạn về trung tâm riêng của bạn.



(Theo “Phật và chứng ngộ” của Osho)
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 9 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (12-09-2010), admin (10-09-2010), cheznous (24-11-2010), gunoeros (19-01-2011), Happy (10-09-2010), macvophong (05-12-2009), nguyen van nhan (18-09-2010), Nhat nguyen (05-12-2009), tamnhat13 (04-12-2009)
Lạm bàn về một học thuyết
Old 10-09-2010, 12:08 pm  
admin
Administrator
 
admin's Avatar
 

Default Lạm bàn về một học thuyết
Hôm qua, chỉ vô tình thôi, mình đi ngang một nơi để một cuốn sách, mình cầm lên đọc và cảm thấy... thật "chua chát". Cái mà người ta tự xưng là "Đại Pháp" sao lại có thể nói một cách thiển cận không thể tưởng về Đức Phật.

Xin trích cho các bạn thưởng lãm một tí:

Trích:
Tôi cũng cần phải nhấn mạnh một vấn đề, tu luyện chúng ta cần phải có truyền công giảng Pháp. Một số hoà thượng ở chùa, đặc biệt là bên Thiền tông, có thể có cách nghĩ khác. Hễ nghe đến ‘giảng Pháp’, họ liền không thích nghe. Tại sao? Thiền tông nhìn nhận rằng: Pháp ấy không thể giảng, Pháp đã giảng ra thì không còn là Pháp nữa; không có Pháp có thể giảng; chỉ có thể tâm lĩnh thần hội; vậy nên đến ngày nay Thiền tông không giảng nổi Pháp nào hết. Đạt Ma bên Thiền tông truyền điều ấy, là căn cứ theo một câu của Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca Mâu Ni giảng: ‘Pháp vô định Pháp’. Ông ấy căn cứ trên câu thoại đó của Thích Ca Mâu Ni mà sáng lập pháp môn Thiền tông. Chúng tôi nói cái pháp môn ấy là thứ dùi sừng bò4. Sao lại gọi là dùi sừng bò? Khởi đầu khi Đạt Ma dùi vào trong thì thấy còn rộng rãi lắm; nhị tổ dùi vào thì thấy không còn rộng nữa; tam tổ thì thấy còn lọt được; tứ tổ thì thấy hẹp lắm rồi; ngũ tổ về cơ bản chẳng còn gì để dùi nữa; tới lục tổ Huệ Năng thì đã đến đỉnh rồi và có dùi cũng chẳng đi đến đâu được nữa. Ngày nay chư vị nếu muốn đến Thiền tông học Pháp, chư vị chớ hỏi; nếu chư vị hỏi ông thầy bất kể vấn đề gì, ông sẽ quay lại cho vào đầu chư vị một gậy, gọi là “bổng hát”5. Đó nghĩa là chư vị không được hỏi, phải tự mình ngộ. Chư vị nói: ‘Tôi chưa biết nên mới đến học, ngộ được gì đây? Ông lại cho tôi một gậy là sao?!’ Đó là cái sừng bò kia đã dùi đến đỉnh rồi, không còn gì có thể giảng nữa. Ngay Đạt Ma còn giảng là ông chỉ có thể truyền đến lục tổ, sau đó không dùng được nữa. Mấy trăm năm qua rồi, đến nay vẫn có người ôm chết cứng cái lý của Thiền tông mà không buông. Hàm nghĩa chân chính của lời giảng “Pháp vô định Pháp” của Thích Ca Mâu Ni là gì? Tầng thứ sở tại của Thích Ca Mâu Ni là Như Lai; nhưng các tăng nhân sau này có rất nhiều vị không hề ngộ đến tầng thứ sở tại của Thích Ca Mâu Ni, không ngộ được tâm thái trong cảnh giới tư tưởng của Ông, hàm nghĩa chân chính trong Pháp mà Ông giảng, cũng như hàm nghĩa chân chính trong lời mà Ông nói. Vậy nên đời sau người giải thích thế này, người giải thích thế kia, giải thích đến độ hỗn loạn; cho rằng ‘Pháp vô định Pháp’ nghĩa là chư vị không được giảng, đã giảng ra thì không còn là Pháp nữa. Thật ra không phải nghĩa như vậy. Thích Ca Mâu Ni dưới cội bồ đề khai công khai ngộ rồi, chưa lập tức đạt đến tầng thứ Như Lai. Trong suốt bốn mươi chín năm truyền Pháp, Ông liên tục tự mình đề cao. Mỗi khi đề cao được một tầng thứ, Ông quay lại xét thấy Pháp mình vừa giảng xong không còn đúng nữa. Lại đề cao lên, Ông phát hiện rằng Pháp mình vừa giảng xong lại cũng không đúng nữa. Cứ đề cao lên, Ông lại phát hiện rằng Pháp vừa giảng xong lại không còn đúng. Trong toàn bộ bốn mươi chín năm, Ông không ngừng thăng hoa như thế; mỗi lần sau khi đề cao một tầng thứ, Ông lại phát hiện Pháp Ông giảng trước đó về nhận thức đều là rất thấp. Ông cũng phát hiện rằng Pháp của mỗi một tầng thứ là thể hiện của Pháp tại mỗi một tầng thứ đó; mỗi một tầng thứ đều có Pháp, nhưng đều không phải là chân lý tuyệt đối của vũ trụ. Vả lại Pháp của tầng thứ cao so với Pháp của tầng thứ thấp thì tiếp cận gần đặc tính của vũ trụ hơn; vậy nên, Ông bèn giảng: ‘Pháp vô định Pháp’.

Cuối cùng Thích Ca Mâu Ni còn giảng: ‘Ta đời này chưa có giảng Pháp nào hết’. Thiền tông lại lý giải rằng không Pháp có thể giảng. Vào những năm cuối, Thích Ca Mâu Ni đã đạt đến tầng thứ Như Lai; hỏi tại sao Ông nói Ông chưa có giảng Pháp nào hết? Thực ra Ông đã nêu ra một vấn đề gì? Ý Ông nói là: ‘Ngay cả đạt đến tầng Như Lai như ta, ta vẫn chưa thể thấy được Lý tối hậu của vũ trụ, Pháp tối hậu của vũ trụ là gì’. Vậy nên Ông bảo người đời sau không được lấy những lời Ông giảng làm chân lý tuyệt đối, chân lý bất biến; nếu không người đời sau sẽ bị hạn cuộc vào tầng thứ Như Lai hoặc thấp hơn Như Lai, mà không thể đột phá lên tầng thứ cao hơn. Người đời sau không lý giải được nghĩa chân chính của câu nói ấy, bèn nhìn nhận rằng Pháp đã giảng ra thì không còn là Pháp, họ lý giải kiểu như thế. Kỳ thực Thích Ca Mâu Ni muốn giảng rằng: Các tầng thứ khác nhau có Pháp của các tầng thứ khác nhau, Pháp của mỗi một tầng thứ đều không phải là chân lý tuyệt đối của vũ trụ; nhưng Pháp của mỗi một tầng thứ có tác dụng chỉ đạo ở tầng thứ đó. Thật ra Ông chính là giảng cái Lý này.
Những luận điệu này tôi đã nhiều lần nghe từ mấy người đệ tử thuộc nhóm PLC này phát biểu... lúc đó tôi đã cảm thấy họ thật là... kém cõi (xin lỗi) nên mới nhận định một cách chủ quan và hời hợt như vậy. Thế rồi khi tôi cầm quyển sách do giáo chủ của họ nói thì thật hởi ơi. Không thể có buồn nào buồn hơn...

Tôi định viết một bài để phản biện về cái lối áp đặt ngây ngô này lên Đức Phật nhưng lại một nhân duyên khác, sáng nay, trong lúc lục lạo lung tung, tôi lại thấy được một bài nói chuyện rất tuyệt vời của Ngài Osho... nó đã trả lời giúp tôi một cách rất thuyết phục. Nay tôi chỉ xin trích lại và bôi đỏ những dòng quan trọng để tiện theo dõi hơn. Xin cảm ơn tác giả với lòng kính ngưỡng và tri ân, Ngài đã giảng về Đức Phật một cách sống động và... chính xác như thế. Cũng cảm ơn bác Tuấn Quỳnh đã gửi cái bài này lên diễn đàn từ lâu, nhưng có lẻ lúc đó admin lại không để ý.

Trích:
Nguyên văn bởi tuanvu_quynh1949 View Post
Phật tính hay Thiên tính là một trong những thuộc tính phổ quát của muôn vật từ bé đến lớn, trong số đó có mọi sinh vật và đặc biệt là con người. Ở đây là một bài thuyết giảng của Đạo Sư Osho - một vị Phật - về Phật tính hay vị Phật là gì? Dĩ nhiên, để hiểu được vấn đề này không phải đơn giản!


PHẬT TÍNH LÀ GÌ?

Vị Phật là ai? Hay Phật tính là gì? Chừng nào bạn còn chưa có quan niệm rõ ràng về điều đó, sẽ khó mà hiểu được lời của Phật. Để hiểu những lời này, bạn sẽ phải hiểu cội nguồn từ đâu chúng nảy sinh. Để hiểu hoa, bạn sẽ phải hiểu rễ. Chừng nào bạn còn chưa hiểu rễ, bạn có thể ca ngợi hoa, nhưng bạn sẽ không có khả năng hiểu nó.

Vị Phật là ai? Hay Phật tính là gì? Từ 'Phật' nghĩa là nhận biết thuần khiết, trạng thái của nhận biết tuyệt đối. Vị Phật không phải là người mà là một trạng thái - trạng thái tối thượng, việc nở hoa tối thượng. Phật chẳng có liên quan gì tới Phật Thích Ca. Trước Phật Thích Ca đã có nhiều chư Phật, và sau Phật Thích Ca cũng đã có nhiều chư phật. Phật Thích Ca chỉ là một người đã đạt tới tâm thức tối thượng đó.

Từ 'Phật' cũng giống như từ “Christ”. Jesus chỉ là một trong các Christ - những người đã đạt tới việc nở hoa tối thượng. Đã có nhiều Christ và sẽ có nhiều. Hãy nhớ điều đó - rằng Phật tính không phải là theo bất kì con đường nào được hạn chế bởi Phật Thích Ca. Ngài chỉ là một ví dụ về Phật tính là gì.

Bạn thấy một bông hồng. Nó không phải là bông hồng, nó chỉ là một trong các bông hồng. Hàng triệu bông đã tồn tại trước đó, hàng triệu bông đang tồn tại ngay bây giờ, hàng triệu bông sẽ tồn tại trong tương lai. Nó đơn giản là một đại diện. Bông hồng này đơn giản là một đại diện của tất cả các bông hồng đã từng, đang và sẽ có.

Vị Phật không được xác định bởi cá tính của Ngài. Ngài được xác định bởi trạng thái tối thượng của bản thể Ngài, cái vượt ra ngoài cá tính. Và khi vị Phật nói, Ngài không nói như một người. Ngài nói qua nhận biết tối thượng của mình. Người ta nói rằng Ngài nói là không đúng. Không có ai để nói, không có cái ngã trong ngài để nói. Và thực tế Ngài chẳng có gì để nói cả. Ngài đơn giản đáp ứng. Cũng như bạn đi và bắt đầu hát trong thung lũng, thung lũng đáp lại. Thung lũng đơn giản vọng lại bạn.

Khi bạn tới vị Phật, Ngài đơn giản soi gương bạn. Bất kì điều gì Ngài nói cũng chỉ là sự phản chiếu. Nó là câu trả lời cho bạn, nhưng Ngài chẳng có gì để nói về mình. Nếu vị Phật khác tới Ngài, họ cả hai sẽ vẫn còn tuyệt đối im lặng, hai tấm gương đối diện nhau... chẳng cái gì sẽ được phản chiếu. Các tấm gương sẽ phản chiếu lẫn nhau, nhưng không cái gì sẽ được phản chiếu. Hai tấm gương - hãy nghĩ về hai tấm gương đối diện nhau. Nếu Christ tới gặp Phật, hay Phật ở đâu đó trên các nẻo đường cuộc sống mà bắt gặp Lão Tử, họ sẽ tuyệt đối im lặng - sẽ không có tiếng vọng.

Cho nên khi Phật nói, hãy nhớ điều đó. Ngài không nói gì đặc biệt. Ngài đơn giản phản chiếu mọi người. Đó là lí do tại sao vị Phật không bao giờ có thể rất nhất quán. Triết gia có thể rất nhất quán. Ông ta có cái gì đó để nói. Ông ta nhớ điều đó, ông ta bám vào điều đó, ông ta chưa bao giờ nói cái gì đi ngược lại điều đó... Ông ta xoay xở. Vị Phật nhất định là mâu thuẫn bởi vì mỗi lần ai đó đối diện với Ngài, cái gì đó khác sẽ nảy sinh. Điều đó sẽ tuỳ thuộc vào người đối diện với Ngài.

Điều đó cũng giống như tấm gương. Nếu bạn tới trước tấm gương, nó là khuôn mặt của bạn. Ai đó khác tới, thế thì nó là khuôn mặt của người đó. Khuôn mặt sẽ cứ thay đổi. Bạn không thể nói với tấm gương, “Anh rất không nhất quán. Lúc thì anh hiện khuôn mặt đàn bà, lúc thì hiện khuôn mặt đàn ông, lúc thì khuôn mặt đẹp, lúc thì khuôn mặt xấu”. Tấm gương sẽ đơn giản giữ im lặng thôi. Nó có thể làm gì được? Nó đơn giản phản chiếu. Nó phản chiếu bất kì cái gì đang đó.

Cho nên lời Phật là rất mâu thuẫn. Jesus mâu thuẫn, Phật mâu thuẫn, Krishna mâu thuẫn, Lão Tử cực kì mâu thuẫn. Hegel không mâu thuẫn, Kant không mâu thuẫn, Russell không mâu thuẫn, Khổng Tử không mâu thuẫn, Manu không mâu thuẫn. Họ có giáo điều nào đó. Họ không phản chiếu bạn. Họ có cái gì đó để nói. Họ cứ nói. Họ không như tấm gương, họ giống như ảnh chụp. Nó chẳng bận tâm bạn là ai; nó vẫn còn như vậy. Nó chết. Nó có định nghĩa và hình dạng rõ ràng.

Phật tính là nhận biết vô hình dạng. Hãy nhớ điều đó, bằng không nhiều lần bạn sẽ bắt gặp mâu thuẫn và bạn sẽ không có khả năng hình dung ra cái gì đang xảy ra.

Khi Phật chết, lập tức có nhiều tranh cãi, và các tín đồ chia thành nhiều giáo phái. Bởi vì ai đó đã nghe Phật nói điều này, và ai đó đã nghe điều gì đó tuyệt đối mâu thuẫn với nó. Cho nên không có khả năng nào. Làm sao một người có thể nói được tất cả những điều đó? Cho nên, ai đó phải nói dối... và mọi người bắt đầu phân chia ra. Họ phân chia ra thành nhiều trường phái. Phật bị cắt xén. Ai đó mang tay Ngài, ai đó mang đầu Ngài, ai đó mang chân Ngài - nhưng Ngài không còn là hiện tượng sống nữa.

Bây giờ, những triết lí này rất nhất quán... rất nhất quán, rất logic - nhưng chết. Vị Phật không phải là triết gia, Ngài không phải là người hệ thống hoá. Vị Phật không logic theo bất kì cách nào. Ngài đơn giản sống động, và Ngài phản chiếu mọi thứ đang đó.

Cho nên khi bạn tới một vị Phật, Ngài trả lời bạn. Ngài không có câu trả lời cố định để trao cho bạn, Ngài trả lời bạn. Ngài không có khuôn mặt công cộng. Mọi khuôn mặt của Ngài đều riêng tư và chúng phụ thuộc vào bạn. Nếu bạn mang khuôn mặt đẹp tới cho Ngài, bạn sẽ thấy khuôn mặt riêng của mình được phản chiếu. Và nếu bạn tới mà không có khuôn mặt nào... thuần khiết, tựa tấm gương... chẳng cái gì sẽ được phản chiếu. Thế thì Phật biến mất, Ngài chẳng có gì để nói cả.

Những người đã sống cùng Phật, họ biết. Khi họ có tâm trí riêng của mình, những tâm trí đó được phản chiếu trong Ngài. Khi tâm trí họ bị loại bỏ, họ thực sự trở thành thiền nhân, và khi họ nhìn vào Phật chẳng có ai cả... chỉ cái trống rỗng, thung lũng, im lặng thuần khiết, hồn nhiên nguyên thuỷ - nhưng không có ai ở đó cả.

Những lời này được thu thập lại, được biên soạn, bởi trường phái nào đó. Chúng rất nhất quán. Nhiều lời đã bị loại bỏ, những lời dường như mâu thuẫn. Nhiều lời đã không được đưa vào, những lời mơ hồ. Những lời này đã được thu thập lại bởi một trường phái đặc biệt. Về sau tôi sẽ thảo luận về các nguồn khác, và nhiều lần bạn sẽ bắt gặp những mâu thuẫn. Hãy nhớ điều đó.

Và những người ở gần tôi, họ phải hiểu điều này, tuyệt đối rõ ràng, bởi vì tôi sẽ tự mâu thuẫn mọi ngày. Điều đó tuỳ thuộc vào bầu khí hậu. Điều đó còn tuỳ... Nếu thời tiết nhiều mây, tôi nhiều mây. Nếu mặt trời chiếu sáng và trong trẻo, tôi là cách đó.

Bạn không chỉ tới tôi với những câu hỏi, bạn còn tới với những câu trả lời. Có thể câu trả lời còn chưa được biết tới với bạn, có thể câu trả lời còn bị giấu kín trong vô thức của bạn, ẩn núp đâu đó trong bóng tối của linh hồn bạn. Câu hỏi là ý thức, câu trả lời là vô ý thức. Chức năng của tôi là làm cho câu trả lời của bạn thành hiển nhiên rõ ràng cho bạn, đem nó ra ánh sáng. Tôi nhất định phải mâu thuẫn.

Tôi không phải là người công cộng. Tôi không quan tâm tới đám đông. Tôi chỉ quan tâm tới các đệ tử và người say mê. Điều đó nghĩa là tôi chỉ quan tâm tới mối quan hệ thân thiết. Tôi quan tâm tới bạn, và bất kì cái gì tôi nói với bạn đều được nói cho bạn và không liên quan tới người khác. Khi tôi nói một cách cá nhân, thế thì tôi đang nói với một người đặc biệt. Với người khác điều đó có thể không liên quan. Cho dù là cùng người đó, điều đó không liên quan vào ngày mai, bởi vì người đó sẽ thay đổi.

Cuộc sống liên tục thay đổi. Và tôi chỉ nhất quán với cuộc sống chứ không cái gì khác. Cho nên tôi nhất định mâu thuẫn. Cho nên nếu đôi khi bạn bắt gặp mâu thuẫn, đừng vội vã, và đừng cố gắng hình dung ra bằng cách nào đó, và đừng cố gắng sửa lại chúng. Cứ để chúng như chúng vậy.

Một người như Phật phải mâu thuẫn. Ngài phải chứa tất cả mọi mâu thuẫn bởi vì Ngài chứa tất cả các khả năng của nhân loại. Ngài chứa tất cả mọi câu hỏi có thể có và mọi câu trả lời có thể có. Ngài chứa tất cả bề mặt có thể có và tất cả các pha có thể có. Ngài chứa toàn thể quá khứ của nhân loại, hiện tại và tương lai.

Đó là nghĩa khi Phật nói, “Khi ông đã tới nhà, kho bản thể bên trong nhất của ông chói sáng, tất cả sẽ được biết - tất mọi điều quá khứ, hiện tại và tương lai. Không cái gì còn lại không được biết. Trong việc biết đó mọi thứ đều được hiển lộ”. Nhưng mọi thứ... và các thứ đều không nhất quán.

Đó là cái đẹp của thế giới - rằng mọi sự đều không nhất quán. Mọi thứ đều có phẩm chất khác nhau, cá tính khác nhau. Mọi thứ đều là sự hiện hữu theo cách riêng của chúng, và Phật đơn giản phản chiếu... sự phản chiếu, tấm gương.

Những lời này bao giờ cũng bắt đầu bởi Phật nói. Hãy nhớ điều đó. Khi điều đó được Phật nói, điều đó đơn giản nghĩa là Ngài chẳng có gì để nói cả. Ngài phản xạ, Ngài phản xạ lại bạn. Ngài đơn giản biểu lộ cho bạn, bạn là ai. Ngài hiển lộ bạn cho bản thân bạn. Ngài đem bạn về trung tâm riêng của bạn.

(Theo “Phật và chứng ngộ” của Osho)
Ngài Osho này đã thanh minh được cho Đức Phật trước những luận điệu kiểu như Ông LHC và tôi thiết nghĩ rằng ngoài ông LHC ra, trên thế giới này sẽ còn có rất nhiều học thuyết tương tự và chúng cũng sẽ ăn khách vì những hào nhoáng logic bề ngoài.

Tôi cũng xin mạn phép bổ sung thêm một tí ý kiến cá nhân của mình vào để phản biện thêm cái gọi là "Đa Tầng Đa Cõi" của ông LHC, Ông đã dùng nó để đánh giá Đức Phật rất hời hợt.

Cái cơ cấu vũ trụ nhiều tầng nhiều lớp, tầng trên cao bao trùm hơn tầng dưới... không phải là Đức Phật không có thuyết giảng nhưng cái nhìn của Đức Phật đã "băng" qua cái hệ thống vũ trụ "giả lập" đó rồi. Một cõi hay một tầng nào đó có tồn tại trong vũ trụ này đều là giả lập vì những nghiệp lực, tâm thức, ước muốn... của chúng sanh trong cái tầng đó. Nếu chúng sanh đó thay đổi tâm thức, ước muốn, nghiệp lực.v.v. thì sanh sang cõi khác tương ứng. Nhưng nếu tất cả chúng sanh chứng nhận được "bản thể vô sanh" chân thật của họ thì tất các đền đài, tầng cõi gì gì đó... đều tan biên như một giấc mộng. Cái việc Sanh đi sanh lại, sanh lên sanh xuống, qua lại... lòng vòng trong cái vòng tròn bất tận của "vũ trụ" này sẽ chấm dứt.

Vũ trụ mà Ông LHC định nghĩa là nhiều tầng nhiều lớp, thật đối với Phật Pháp chỉ là những sở chấp của những chúng sanh ở cõi ấy mà tạm có. Chúng không phải là một thứ hẵng hữu (tự có) như ông định nghĩa. Thế thì cái ý niệm các pháp vốn tự có, các tầng vốn đã có, vấn đề là chúng ta tu tới mức nào để "lọt" vào cái tầng đó của Ông, đối với Phật Pháp là Tà Kiến. Người hiểu như vậy đã rơi vào "Pháp Chấp và Ngã Chấp" chỉ vì trí tuệ chưa mở nên mới nhận thức thiển cận như vậy. Điều này có thể lấy ví dụ như cách hiểu của một học sinh tiểu học vậy. Khi nó sinh ra và được cho đi học, nó thấy có hệ thống giáo dục 12 lớp, có hệ đại học, sau đại học.... và nó kết luận rằng hệ thống này vốn dĩ có sẵn từ "xưa" đến giờ, vấn đề là mình học tới hệ nào mà thôi. Đó là cái nhìn của một đứa học trò còn đi học. Hệ thống giáo dục phân chia 12 lớp này ở đâu có? Thời xa xưa phong kiến người ta có chia ra như vậy đâu? Rồi trong tương lai này, nếu những người "làm giáo dục" cảm thấy hệ thống phân chia như vậy chưa hợp lý rồi họ thay đổi, họ đổi sang một hệ thống mới để phù hợp hơn với "nhu cầu của thời đại" thì hệ thống cũ mất. Đây cũng là cách nhìn của Phật Pháp. Vạn pháp vỗn dĩ không phải như vậy... nó thay đổi.. nó biển chuyền và sự tồn tại tạm thời của một cái gì đó là vì cái đó còn hữu dụng, vì nó còn tương thích với những tâm thức hiện tại.

Pháp bổn pháp vô pháp, bản chất thật của mọi sự là không, nhưng vì nhân duyên... nó hình thành, tồn tại rồi hết duyên... tiêu mất, rồi sanh ra ở một dạng khác. Triết học Phương Đông dùng từ "biến dịch". Vì vậy chấp pháp, cho rằng nó thực có, cái gì đó đã và sẽ tồn tại mãi mãi là việc làm của những người không có trí tuệ. Cho nên Phật Pháp không có thuộc về một hệ thống cứng nhắc, không có thuộc về một Tầng hay một cõi nào hết. Trong Phật Pháp không có khái niệm về Tầng Như Lai hay nhiều Tầng Như Lai cao hơn và cao hơn.v.v.

Xin lỗi vì hôm nay đã mượn diễn đàn này để phản bác một học thuyết rất sai lệch về Đạo Phật và mình nghĩ sẽ còn nhiều học thuyết kiểu như vậy. Trong một thế giới đa học thuyết, đa tư tưởng như hôm nay sẽ có rất nhiều hiện tượng này. Trong sự tỉnh táo, có lẻ chúng ta nên cảnh giác và nhắc nhở những người đang còn say mê về những học thuyết kiểu như vậy để tự đánh mất đường Tu của mình. Học phái nào cũng tự cho là chính phái, cũng là con đường Tu luyện nhanh nhất, uyên bác nhất, nhưng nếu nó chỉ mang lại sự tự mãn... thì xin hãy cẩn thận.

Thân ái,
admin
__________________
Success is getting what you want,
Happiness is wanting what you get.

thay đổi nội dung bởi: admin, 10-09-2010 lúc 2:28 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 10 người đã gửi lời cảm ơn đến admin vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (12-09-2010), cheznous (24-11-2010), dung9610 (10-09-2010), Happy (10-09-2010), liem0962 (10-09-2010), NATO (10-09-2010), Nhat nguyen (10-09-2010), trungxldongnai (14-09-2010), tuanvu_quynh1949 (10-09-2010), Udambara (11-09-2010)
Old 18-01-2011, 3:24 pm  
xuanloc_mel
Banned
 

Default
Trích:
Nguyên văn bởi admin View Post
Hôm qua, chỉ vô tình thôi, mình đi ngang một nơi để một cuốn sách, mình cầm lên đọc và cảm thấy... thật "chua chát". Cái mà người ta tự xưng là "Đại Pháp" sao lại có thể nói một cách thiển cận không thể tưởng về Đức Phật.

Xin trích cho các bạn thưởng lãm một tí:



Những luận điệu này tôi đã nhiều lần nghe từ mấy người đệ tử thuộc nhóm PLC này phát biểu... lúc đó tôi đã cảm thấy họ thật là... kém cõi (xin lỗi) nên mới nhận định một cách chủ quan và hời hợt như vậy. Thế rồi khi tôi cầm quyển sách do giáo chủ của họ nói thì thật hởi ơi. Không thể có buồn nào buồn hơn...

Tôi định viết một bài để phản biện về cái lối áp đặt ngây ngô này lên Đức Phật nhưng lại một nhân duyên khác, sáng nay, trong lúc lục lạo lung tung, tôi lại thấy được một bài nói chuyện rất tuyệt vời của Ngài Osho... nó đã trả lời giúp tôi một cách rất thuyết phục. Nay tôi chỉ xin trích lại và bôi đỏ những dòng quan trọng để tiện theo dõi hơn. Xin cảm ơn tác giả với lòng kính ngưỡng và tri ân, Ngài đã giảng về Đức Phật một cách sống động và... chính xác như thế. Cũng cảm ơn bác Tuấn Quỳnh đã gửi cái bài này lên diễn đàn từ lâu, nhưng có lẻ lúc đó admin lại không để ý.



Ngài Osho này đã thanh minh được cho Đức Phật trước những luận điệu kiểu như Ông LHC và tôi thiết nghĩ rằng ngoài ông LHC ra, trên thế giới này sẽ còn có rất nhiều học thuyết tương tự và chúng cũng sẽ ăn khách vì những hào nhoáng logic bề ngoài.

Tôi cũng xin mạn phép bổ sung thêm một tí ý kiến cá nhân của mình vào để phản biện thêm cái gọi là "Đa Tầng Đa Cõi" của ông LHC, Ông đã dùng nó để đánh giá Đức Phật rất hời hợt.

Cái cơ cấu vũ trụ nhiều tầng nhiều lớp, tầng trên cao bao trùm hơn tầng dưới... không phải là Đức Phật không có thuyết giảng nhưng cái nhìn của Đức Phật đã "băng" qua cái hệ thống vũ trụ "giả lập" đó rồi. Một cõi hay một tầng nào đó có tồn tại trong vũ trụ này đều là giả lập vì những nghiệp lực, tâm thức, ước muốn... của chúng sanh trong cái tầng đó. Nếu chúng sanh đó thay đổi tâm thức, ước muốn, nghiệp lực.v.v. thì sanh sang cõi khác tương ứng. Nhưng nếu tất cả chúng sanh chứng nhận được "bản thể vô sanh" chân thật của họ thì tất các đền đài, tầng cõi gì gì đó... đều tan biên như một giấc mộng. Cái việc Sanh đi sanh lại, sanh lên sanh xuống, qua lại... lòng vòng trong cái vòng tròn bất tận của "vũ trụ" này sẽ chấm dứt.

Vũ trụ mà Ông LHC định nghĩa là nhiều tầng nhiều lớp, thật đối với Phật Pháp chỉ là những sở chấp của những chúng sanh ở cõi ấy mà tạm có. Chúng không phải là một thứ hẵng hữu (tự có) như ông định nghĩa. Thế thì cái ý niệm các pháp vốn tự có, các tầng vốn đã có, vấn đề là chúng ta tu tới mức nào để "lọt" vào cái tầng đó của Ông, đối với Phật Pháp là Tà Kiến. Người hiểu như vậy đã rơi vào "Pháp Chấp và Ngã Chấp" chỉ vì trí tuệ chưa mở nên mới nhận thức thiển cận như vậy. Điều này có thể lấy ví dụ như cách hiểu của một học sinh tiểu học vậy. Khi nó sinh ra và được cho đi học, nó thấy có hệ thống giáo dục 12 lớp, có hệ đại học, sau đại học.... và nó kết luận rằng hệ thống này vốn dĩ có sẵn từ "xưa" đến giờ, vấn đề là mình học tới hệ nào mà thôi. Đó là cái nhìn của một đứa học trò còn đi học. Hệ thống giáo dục phân chia 12 lớp này ở đâu có? Thời xa xưa phong kiến người ta có chia ra như vậy đâu? Rồi trong tương lai này, nếu những người "làm giáo dục" cảm thấy hệ thống phân chia như vậy chưa hợp lý rồi họ thay đổi, họ đổi sang một hệ thống mới để phù hợp hơn với "nhu cầu của thời đại" thì hệ thống cũ mất. Đây cũng là cách nhìn của Phật Pháp. Vạn pháp vỗn dĩ không phải như vậy... nó thay đổi.. nó biển chuyền và sự tồn tại tạm thời của một cái gì đó là vì cái đó còn hữu dụng, vì nó còn tương thích với những tâm thức hiện tại.

Pháp bổn pháp vô pháp, bản chất thật của mọi sự là không, nhưng vì nhân duyên... nó hình thành, tồn tại rồi hết duyên... tiêu mất, rồi sanh ra ở một dạng khác. Triết học Phương Đông dùng từ "biến dịch". Vì vậy chấp pháp, cho rằng nó thực có, cái gì đó đã và sẽ tồn tại mãi mãi là việc làm của những người không có trí tuệ. Cho nên Phật Pháp không có thuộc về một hệ thống cứng nhắc, không có thuộc về một Tầng hay một cõi nào hết. Trong Phật Pháp không có khái niệm về Tầng Như Lai hay nhiều Tầng Như Lai cao hơn và cao hơn.v.v.

Xin lỗi vì hôm nay đã mượn diễn đàn này để phản bác một học thuyết rất sai lệch về Đạo Phật và mình nghĩ sẽ còn nhiều học thuyết kiểu như vậy. Trong một thế giới đa học thuyết, đa tư tưởng như hôm nay sẽ có rất nhiều hiện tượng này. Trong sự tỉnh táo, có lẻ chúng ta nên cảnh giác và nhắc nhở những người đang còn say mê về những học thuyết kiểu như vậy để tự đánh mất đường Tu của mình. Học phái nào cũng tự cho là chính phái, cũng là con đường Tu luyện nhanh nhất, uyên bác nhất, nhưng nếu nó chỉ mang lại sự tự mãn... thì xin hãy cẩn thận.

Thân ái,
admin
Thân!
Có câu " kẻ hạ căn vừa nghe thấy Đạo liên phun ra mồm toàn là những điều nhấp nhúa " Tôi không đại diện cho ai, tôi chỉ tự nguyện viết những điều này không vì để cho tác giả là admin cái bài trên tỉnh ngộ, mà là cho những ai vô tình đọc qua sẽ tước đoạt đi chính niệm trong lòng họ...thật tội lỗi!
Hãy qua những diễn đàn bên Pháp Luân Đại Pháp mà xem, có bao giờ họ phê bình hay nhận xét Nhân Điện không? Vậy chỉ từ cái việc làm này đã thể hiện "admin" là một người tâm tính còn thua kém người bình thường nữa... có sai hay không? bởi vì người ta cứ muốn làm thần tiên mà họ không hiểu đằng sau đó là bao ưu phiền. Có ai hiểu được vì sao không? Luôn luôn nói người khác là chấp trước thì chính là mình chấp trước. Luôn luôn nói mình đã xả bỏ được chấp trước thì chính là mình chưa hoàn toàn xả bỏ, vì cái xả bỏ chân chính là không còn biết mình đã xả bỏ chứ không phải là biết mình đả xả bỏ nó. Luôn bàn về nào là vô ngã và tự ngã mà mỗi chữ " Tu " thôi còn chưa hiểu nghĩa chân chính thì biết gì đến những cảnh giới đó.
Những lời đó của tôi đã đủ khiến quí vị tự nhìn lại mình xem mình đã đủ tiêu chuẩn để gọi là tu luyện chưa?
Ở đây tôi không hề nói ra bất cứ điều gì mà tôi ngộ được từ Pháp Lý, vì không phải ai cũng xứng để nghe Pháp. Thời Thích ca truyền Pháp, Balamon còn cho là tà giáo nữa là. Mọi người có ai hiểu được tại sao Chúa phải bị đóng đinh trên thập tự giá? tại sao Thích Ca phải dùng niết bàn để giải thoát... còn vô vàn điều huyền diệu phía sau. Vì thế không biết thì đừng nên nói, đã nói thì nói cho rõ. Nhân Điện có đường hướng Nhân Điện có ai bắt tất cả người dân phải tu theo một Pháp đâu..không bao giờ có diễm phúc đó cho Nhân Loại. Nhưng hãy nhìn vào con đường mà một Pháp môn dẫn dắt sẽ rõ họ sẽ đi về đâu. Thầy bói xem voi là câu chuyện hay cho admin cần đọc nhiều đó? Hay xem Tây du ký nhiều nữa vì đằng sau đó là nội hàm chân chính của một người chân tu. Có mấy ai hiểu được...
Vì tôi đã từng là một người học Nhân Điện, và cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu? Vì sao phải bỏ nhiều tiền để học? Pháp để trao đổi bằng tiền ư? Vì sao chỉ tham gia ít thời gian lại có khả năng chữa bệnh cho người khác mà mình vẫn chết vì nghiệp? Những vấn đề đó bất kỳ một học viên Nhân Điện nào cũng nhận ra nhưng họ...hoặc từ bỏ, hoặc chấp nhận vì có một mong cầu thầm kín trong tâm "rồi thì mình cũng học cao lên, cũng làm thầy, cũng trị bệnh và dạy lại cho người khác" có đúng như thế không? Tôi chưa hề nói gì đến sự kỳ diệu của Đại Pháp vì nói cũng k ai tin, làm sao mà những chuyện lúc tu luyện thiên mục khai mở các không gian khác triển hiện, làm sao con người ngồi đó bay lên thắng được sức cản trọng lực, làm sao mà họ không hề bị bệnh thân thể luôn khỏe, tâm tính tốt đẹp lên... những điều đó không phải là mua được bằng tiền, không phải cấp cho bất kỳ hạng người nào...vì thế tôi không bàn đến vì sẽ không ích gì. Tôi bàn đến là bàn về cụ thể những thắc mắc của Nhân Điện, vì đây là diễn đàn Nhân Điện, tôi không có ý truyền bá gì để mọi người tu theo, mà có muốn theo cũng không dễ đâu.
Tôi chỉ chia sẽ vài lời như vậy, không mang tâm tranh đấu đúng sai gì, tôi chỉ nói sự thật và mọi người có thể dựa trên lý trí của mình mà suy xét, không ép buộc ai. Còn lần sau admin nên dừng lại việc phê phán một học thuyết nào trên đất của mình nếu mình thực sự không hiểu một chút gì. Thích ca có giảng " Cả đời tôi chưa truyền Pháp nào" là vì ông không muốn người đời sau bị giới hạn ở tầng thứ của ông, chứ không phải là hiểu thiển cận " không có Pháp để giảng" vậy tu cái gì đây?
Thân mến và sẽ chẳng bao giờ có thêm một cơ hội nữa cho quí vị đâu! Thời gian không còn nữa...
Tôi không đại biểu cho Pháp môn nào để viết những điều này! Tôi viết trên nhận thức của tôi về bài viết trên...
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 18-01-2011, 4:45 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
xuanloc_mel nè
Vì tôi đã từng là một người học Nhân Điện, và cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu? Vì sao phải bỏ nhiều tiền để học? Pháp để trao đổi bằng tiền ư? Vì sao chỉ tham gia ít thời gian lại có khả năng chữa bệnh cho người khác mà mình vẫn chết vì nghiệp? Những vấn đề đó bất kỳ một học viên Nhân Điện nào cũng nhận ra nhưng họ...hoặc từ bỏ, hoặc chấp nhận vì có một mong cầu thầm kín trong tâm "rồi thì mình cũng học cao lên, cũng làm thầy, cũng trị bệnh và dạy lại cho người khác" có đúng như thế không?
Chỉ cần đọc bạn viết câu này thì bạn đúng là xuanloc_meo
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (19-01-2011), cheznous (20-01-2011), Khách Trọ (18-01-2011), macvophong (19-01-2011)
Old 18-01-2011, 5:04 pm  
Happy
Senior Member
 
Happy's Avatar
 

Default
Hèm, từ lúc anh admin post bài trên mình thấy không ổn rồi, biết sẽ có chuyện mà. Nhưng thôi cũng ko ý kiến, quyền tự do cá nhân mà hehe.
Mình thấy ác của một môn mà bình luận về một môn khác thì cũng không phải cho lắm. Nhưng vấn đề ở đây không phải là nội dung, nội dung tranh luận là hợp lý, chỉ cần anh ác bỏ đi vài tính từ nhận xét (vd...kém cỏi, ngây ngô...), cho bài post thành một topic tranh luận khách quan thì sẽ hợp lệ.

Nhưng cho dù không chỉnh bài thì tớ vẫn thấy anh ấy chơi đúng luật nhá bạn xuanloc. Đây là nhà của người ta, muốn nói gì thì là quyền của người ta chứ, chừng nào có ai tự nhiên chui vô nhà của bạn rêu rao rằng nhà bạn xấu, nhà tui đẹp thì đó mới là...phạm pháp.
Và cho dù người ta có làm gì đối với mình, thì ứng xử của mình mới là một nghệ thuật. Chưa bàn tới ai đúng ai sai, ai cao ai thấp, khoan bàn đã, chỉ cần biết là họ nói kệ họ, "kệ mẹ nó", cứ cười hì hì và "thế à".
An nhiên tự tại, vậy mới pro.
Nhắc lại một câu từ "cựu pháp môn" của bạn:
"Nếu người ta nói đúng sao anh chị em phản ứng, nếu người ta nói sai có gì đâu mà ace bực"
Quan trọng là mình phải bình an. Bạn nói công đề cao lên, tâm tính tốt đẹp hơn. Vậy với tâm khi post bài, vd như khi dùng câu trích: "kẻ hạ căn..." bạn đã bình an chưa? Có còn chấp trước ko? Có còn bảo vệ pháp môn của mình ko? Thôi thì, "chỉ có nó biết nó" nhé.

Còn bàn về ưu và nhược của NĐ hay PLC, thôi chắc miễn nhé.
Bạn cũng nói được một điều là "khi mình chưa ở tầng đó thì đừng có bàn". Người ta lấy bụng mình suy bụng Phật nên cãi lộn miết rồi. Tưởng mình ngon ai dè cái bụng ổng bự hơn.
Vd như khi thấy bạn đặt câu hỏi về NĐ, tui có thể nói: "Trình NĐ của anh này còn kém", hoặc khi thấy tui bàn về PLC, bạn có thể xỉa: "Còn gà lắm". Mỗi người có một căn khác nhau, sẽ ngộ khác nhau đối với từng pháp môn. Nếu dùng lý luận chọi nhau thì tới chục cái Tết Cônggô cũng chẳng xong. Hàng ai nấy chơi, vậy cho khỏe.

Chúc bạn bình an và thành tựu trên con đường mình chọn nhé.

thay đổi nội dung bởi: Happy, 18-01-2011 lúc 5:08 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 8 người đã gửi lời cảm ơn đến Happy vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (19-01-2011), cheznous (20-01-2011), gunoeros (19-01-2011), Khách Trọ (18-01-2011), ltduy001 (18-01-2011), macvophong (19-01-2011), NATO (18-01-2011), Nhat nguyen (18-01-2011)
Old 18-01-2011, 6:58 pm  
Khách Trọ
Senior Member
 
Khách Trọ's Avatar
 

Default
Ồ tưởng bác XL Mel vào đây hùng biện một cách thuyết phục để đánh đổ những lý luận của lão ác min chứ ai ngờ bác cũng chỉ dãy tử ra như thế. Hơn nữa lão ác min kia cũng chỉ viết bài đó với tính cách cá nhân của lão chứ có phải đại diện gì cho nhân điện đâu mà bác bị "kích động" thế. Hay là sẵn dịp tuôn luôn mấy điều đang bị ức chế bấy lâu nay cho hả dạ hả? he he...

Đọc bài của Cụ Osho cho kỹ đi bác để hiểu Đức Phật rồi hãy quyết định có nên đi tuyên truyền "Pháp vô định pháp" lăng tăng gì đó... nào là vì Đức Phật không thể chứng cao hơn tầng cùa Ngài, nào là Ngài không nói được vì sợ đệ tử không vượt qua tầng của mình, nào là các giác giả (các vị Phật) đã bị "out of date" vì cái hệ thống vũ trụ cũ này sắp hết date, chúng ta phải update để kịp thích ứng với cái vũ trụ mới, nào là các pháp môn tu luyện khác (tất cả) đều thuộc về system cũ rồi, hết xài được rồi, bỏ đi, vất đi... thì may ra mới thích ứng với vũ trụ mới, mới đạt tới cao tầng thật sự... thậm chí cũng không nên học, đọc, nghiên cứu, tu luyện... các pháp khác nếu không bị giảm tầng... tốt nhất tránh xa mọi thứ đi chỉ duy có PLC này mới cứu được bạn... và cuối cùng... đừng quên phát chánh niệm để... đập lại... "thế lực tà ác" cho tả tơi đời Hoa của nó vì cái thói vô minh và hung ác đi nhé! Đấy Chánh Pháp phải phát được "chánh niệm" như thế???...

thay đổi nội dung bởi: Khách Trọ, 18-01-2011 lúc 7:27 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến Khách Trọ vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (19-01-2011), cheznous (20-01-2011)
Old 18-01-2011, 7:31 pm  
xuanloc_mel
Banned
 

Default
Trích:
Nguyên văn bởi Khách Trọ View Post
Ồ tưởng bác XL Mel vào đây hùng biện một cách thuyết phục để đánh đổ những lý luận của lão ác min chứ ai ngờ bác cũng chỉ dãy tử ra như thế. Hơn nữa lão ác min kia cũng chỉ viết bài đó với tính cách cá nhân của lão chứ có phải đại diện gì cho nhân điện đâu mà bác bị "kích động" thế. Hay là sẵn dịp tuôn luôn mấy điều đang bị ức chế bấy lâu nay cho hả dạ hả? he he...

Đọc bài của Cụ Osho cho kỹ đi bác để hiểu Đức Phật rồi hãy quyết định có nên đi tuyên truyền "Pháp vô định pháp" lăng tăng gì đó... nào là vì Đức Phật không thể chứng cao hơn tầng cùa Ngài, nào là Ngài không nói được vì sợ đệ tử không vượt qua tầng của mình, nào là các giác giả (các vị Phật) đã bị "out of date" vì cái hệ thống vũ trụ cũ này sắp hết date, chúng ta phải update để kịp thích ứng với cái vũ trụ mới, nào là các pháp môn tu luyện khác (tất cả) đều thuộc về system cũ rồi, hết xài được rồi, bỏ đi, vất đi... thì may ra mới thích ứng với vũ trụ mới, mới đạt tới cao tầng thật sự... thậm chí cũng không nên học, đọc, nghiên cứu, tu luyện... các pháp khác nếu không bị giảm tầng... tốt nhất tránh xa mọi thứ đi chỉ duy có PLC này mới cứu được bạn... và cuối cùng... đừng quên phát chánh niệm để... đập lại... kẻ thù của mình cho tả tơi đời Hoa của nó vì cái thói vô minh và hung ác đi nhé! Đấy Chánh Pháp phải phát được "chánh niệm" như thế???...
Thân mến!
Mọi người không cần quan tâm là tâm tính tôi thế nào. Cái lý thế gian là phản đảo. Cái sai của tôi là cảm thấy động tâm khi thấy những kẻ có thế giới tâm linh lạc vào đường tà nên mới nói ra những lời này. Thôi mình chấm dứt nhé, tôi nói lại một câu cuối cùng : ' KHI SỰ THẬT TRIỂN HIỆN THÌ ĐỪNG OÁN TRÁCH TÔI NHÉ'. Ngoài phương diện tu luyện ra, tôi vẫn luôn quý mến mọi người không sanh tâm phân biệt. Mình trao đổi chỉ mong có ai đó tỉnh ngộ thôi... ai hiểu lòng mình bằng chính mình thế nên tôi cũng k giải thích gì nữa.
Tôi cũng sẽ không tồn tại trong diễn đàn này nữa đâu...
Thân chào tất cả!
Trả Lời Với Trích Dẫn
Tội nghiệp ông Phật!
Old 18-01-2011, 8:29 pm  
NATO
No Action, Talk Only
 
NATO's Avatar
 

Default Tội nghiệp ông Phật!
Thân gửi Happy,

Lâu ngày vắng bóng, hôm nay thấy Happy xuất hiện nói năng lung tung, buồn cười quá, Nato cười ặc ặc… Này nhé Happy, cái anh chàng Xuanloc_meo thì là cựu học viên Nhân Điện, còn cái anh Ác-min nhà ta --Nato xin bật mí-- lại là cựu PLC hành giả, nay họ “đụng" nhau, để yên xem cho vui! Chỉ tội nghiệp ông Phật, chẳng nói chẳng rằng, im re mà lại bị thiên hạ lôi ra “mần thịt” ngon lành, nói cứ như là mình rành tâm ý của ổng còn hơn tâm ý của … chính mình vậy. =)

Phật pháp thì Nato học chẳng được bao nhiêu nhưng riêng cái vụ các tầng cao hơn Như Lai, Niết bàn gì gì đó, Nato có nghe nói như vầy: “Dù cao cở nào, hễ mà còn hình tướng thì cũng chỉ là huyễn thôi!” Nato cũng có nghe nói rằng khi nào tâm thức mà qua khỏi hình tướng thì không còn nhu cầu tổng xỉ vả pháp môn hay giáo chủ nào nữa. =)

Vậy thì nói túm lại, tụi mình tâm thức ai cũng còn trong hình tướng, còn thấy tầng cao, tầng thấp, Niết Bàn, Thiên Đàng, Nhân Điện, PLC… nên nói như Happy cũng không sai: “Hàng ai nấy chơi” cho rồi vậy. Nghỉ chơi rồi thì thôi, hơi sức đâu quay lại … cứu độ chi cho phiền nhể!

Như Nato thì khỏe hơn: hàng ai mình cũng chơi hết! No problem! (Nato là hành giả của vài lố pháp môn, trong đó có cả PLC, hi hi). Trong mỗi pháp môn, cái gì thấy hay thì “chôm”, cái gì thấy hơi kỳ kỳ thì bỏ qua, lượm lặt lâu ngày cũng được một đống đồ chơi vui ra phết! =)
__________________
NATO
No Action, Talk Only


thay đổi nội dung bởi: NATO, 18-01-2011 lúc 9:08 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 7 người đã gửi lời cảm ơn đến NATO vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (19-01-2011), cheznous (20-01-2011), Happy (19-01-2011), Nhat nguyen (19-01-2011), thien thu 2 (19-01-2011), tuanvu_quynh1949 (18-01-2011), Udambara (19-01-2011)
Old 18-01-2011, 11:23 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
CON ÐƯỜNG CỦA PHẬT


Ðức Phật không có dạy chủ nghĩa Phật giáo. Ngài dạy giáo pháp (Dharma), hay là luật. Ngài không hề dạy tín ngưỡng hay là giáo điều độc đoán, hay là một hệ thống nào bắt buộc người ta phải tin theo. Qua sự giác ngộ của ngài, đức Phật chỉ cho ta con đường, để chúng ta có thể kinh nghiệm được chân lý bên trong mỗi người chúng ta. Trong khoảng thời gian bốn mươi lăm năm hoằng pháp, ngài đã dùng rất nhiều văn tự, ý niệm khác nhau để chỉ cho ta chân lý. Nhưng những văn tự, ý niệm ấy, tự nó không phải là chân lý; chúng chỉ là ngón tay chỉ cho ta thấy mặt trăng. Trong thời đức Phật, nhờ ở trí tuệ và tài giảng thuyết của ngài, không có mấy ai bị lầm lẫn giữa ý niệm và kinh nghiệm. Họ nghe những gì đức Phật muốn nói, quay vào bên trong và kinh nghiệm sự thật ở nơi chính thân tâm của mình.

Sau một thời gian người ta bắt đầu bớt đi thực hành, họ bắt đầu lẫn lộn lý thuyết với lại kinh nghiệm. Có nhiều trường phái khác nhau xuất hiện, tranh luận nhau về lý thuyết, khái niệm. Ðiều này cũng giống như vì muốn để cho người khác thấy mặt trăng, ta dùng ngón tay để chỉ. Nhìn ngón tay mà quên đi mặt trăng là đã quên đi mục đích của nó. Chúng ta không nên lầm ngón tay với lại mặt trăng, đừng nhầm lẫn văn tự, lý thuyết với lại một kinh nghiệm thực chứng.

Khi giáo pháp được truyền sang Trung Hoa, nó được phát triển theo một đường hướng đặc biệt. Phật giáo được pha thêm Lão giáo. Một trong những người có ảnh hưởng nhiều nhất vào đường lối và truyền thống của trường phái thiền Ch'an (Zen) là lục tổ Huệ Năng. Trong thiền sử có viết, mặc dù ngài vô học, không biết dọc, nhưng tâm ngài trong sạch và thẳm thấu đến mức chỉ nghe một lời tụng trong kinh Kim Cang, là ngài đã giác ngộ. Thường thì người ta phải đọc những lời trong kinh Kim Cang cho ngài nghe, để nhờ ngài giảng nghĩa lý thâm diệu của nó.

Ngài có giảng cho nghe về ý nghĩa của các trường phái, những cổ xe (thừa) khác nhau trong Phật giáo:

Ðức Phật giảng dạy giáo lý của ba thừa (cổ xe) và tối thượng thừa. Muốn hiểu được việc này, các ông hãy tỉnh tâm lại và đừng chấp vào hình tướng hay hiện tượng. Sự khác biệt của bốn thừa này không hề có ở trong giáo lý của đức Phật, nhưng chỉ ở trong tâm phân biệt của con người. Nghe, đọc, tụng kinh sách là Tiểu thừa. Học và hiểu được giáo pháp là Trung thừa. Ðem giáo pháp ra để thực hành là Ðại thừa. Thông suốt được giáo pháp, thâm nhập nó hoàn toàn, xa lìa mọi chấp nhứt và không nắm giữ một việc gì, là Tối thượng thừa.

Trong mọi truyền thống Phật giáo, cho dù ở Ấn Ðộ, Miến Ðiện, Trung Hoa, Nhật Bổn, Tây Tạng hay Hoa kỳ, có những hạng người chấp vào văn tự, đọc tụng kinh điển. Ðó chính là tiểu thừa. Khi ta chuyển lý thuyết ra thành hành động, trực tiếp kinh nghiệm giáo pháp, chúng ta lần lần tiến lên những thừa cao hơn. Cho đến khi ta không còn bám víu vào đâu nữa, không còn trụ chấp vào một nơi nào, hoàn toàn sống trong đạo pháp trong mỗi giây phút. Ðây mới là con đường tối thượng thừa của giáo pháp, một sự thực hành trọn vẹn. Nó không nằm trong truyền thống nào hết. Nó tùy thuộc vào sự hiểu biết tiến hóa của mỗi người.

Khi giáo pháp được biểu lộ qua những giai đoạn khác nhau, trong lịch sử đã có nhiều vị thiền sư sử dụng những phương thức thiện xảo để hướng dẫn người ta quay trở vào trong, kinh nghiệm giáo pháp ngay chính nơi tâm mình. Có những danh từ thông dụng, nhưng sau một thời gian bị trở thành một chướng ngại, một ý niệm, được các ngài sử dụng theo một lối mới để tỉnh thức con người, bắt họ phải quay lại nhìn vào thực tại.

Thí dụ như danh từ "Phật", đã được sử dụng trong nhiều truyền thống đối với những khái niệm khác nhau. Trước hết, Phật dùng để chỉ một nhân vật lịch sử, Sĩ Ðạt Ta Cồ Ðàm, đã giác ngộ. Nhưng danh từ ấy cũng được dùng để chỉ một tâm không còn điều bất thiện: Phật tâm, Phật tánh, Tâm không còn bị ảnh hưởng bởi tham, sân và si.

Trong vòng 300 năm sau khi đức Phật nhập diệt, không hề có hình Phật hay tượng Phật. Thực hành giáo pháp tức là hình ảnh của Phật, không cần phải biểu hiện nó ra bên ngoài. Nhưng theo thời gian, truyền thống này bị mất, con người bắt đầu đem đức Phật ra bên ngoài tâm mình, hình tướng hóa nó trong giới hạn không gian và thời gian. Khi ý niệm bị hình tướng hóa, hình tượng được dựng nên, các bậc thầy lại bắt đầu nhấn mạnh lại ý nghĩa ban đầu của chữ Phật. Có vị khuyên "phùng Phật sát Phật". Có nghĩa là gặp Phật thì hãy giết ngài đi. Câu này làm rúng động những ai quen dùng nhang đèn thờ lạy Phật. Nếu bạn có một hình ảnh nào về tâm Phật ở bên ngoài bạn, hãy tiêu diệt nó, buông bỏ nó đi. Ðã có một cuộc tranh luận kịch liệt về việc giác ngộ, thấy Phật tánh, trở thành Phật trong kiếp hiện tại, một luồng sinh khí mới đã được thổi vào sự thực hành.

Ðức Phật Cồ Ðàm đã liên tục nhắc nhở chúng ta rằng, muốn kinh nghiệm được chân lý phải biết quay vào bên trong tâm mình. Có câu chuyện về một vị đệ tử say mê vẻ đẹp của thân đức Phật, tương truyền đức Phật có một vẻ đẹp trọn vẹn về cả thân lẫn tâm, ông ta cứ tìm dịp để được ngồi cạnh nhìn ngắm những tướng tốt trang nghiêm của ngài. Sau một thời gian, đức Phật quở trách ông. Ngài nói rằng, ông ta có thể nhìn ngắm chân dung của đức Phật một trăm năm mà cũng sẽ không thể nào thấy được Phật. Ai thấy được giáo pháp sẽ thấy được Phật. Ðức Phật nằm ở bên trong ta. Nó có nghĩa là kinh nghiệm được chân lý. Luôn luôn lúc nào cũng phải trở về với hiện tại, kinh nghiệm được ngay giờ phút này.

Tổ Huệ Năng có nói:

Chúng ta nên đi tìm Phật ở trong cốt tủy của tâm. Không nên phí công tìm ở bên ngoài mình. Kẻ nào không biết gì về tự tánh của tâm mình là chúng sanh. Còn ai thấy được tự tánh ấy, người đó là Phật.

Phật ở đây không phải là một nhân vật lịch sử, nhưng là sự tự do không còn bị chi phối bởi những sự bất thiện, một tâm hoàn toàn thanh tịnh. Ðó là đức Phật mà tất cả chúng ta đều phải trở thành.

Một quan niệm khác, thường bị hiểu lầm là phân biệt những truyền thống với nhau, là quan niệm về Bồ Tát. Danh từ "Bồ Tát" có hai nghĩa. Theo một nghĩa chuyên môn, nó dùng để chỉ một người phát nguyện sẽ giác ngộ, như là Sĩ Ðạt Ta và cuộc hành trình tiến hóa của ngài cho đến khi đắc quả Phật. Nhưng danh từ Bồ Tát cũng có một nghĩa khác, dùng để chỉ biểu tượng cho những đức tính trong sạch của tâm. Trong truyền thống Mahayana và Tây tạng, có cả một hệ thống bồ tát, mỗi vị tượng trung cho một đức tánh của tâm. Văn Thù là bồ tát của trí tuệ. Quán Thế Âm là bồ tát của đức từ bi. Những biểu tượng cho các đức tánh thiện trong tâm. Trong mỗi giây phút của trí tuệ, ta trở thành bồ tát Văn Thù, trong những giây phút của từ bi ta là đức bồ tát Quán Thế Âm. Nếu chúng ta hiểu danh từ Bồ tát theo nghĩa này, Bồ tát nguyện sẽ có một ý nghĩa bao la hơn.

Trên một phương diện, nó là lời nguyện dâng hiến thân này cho sự giác ngộ, giải thoát. Tương truyền rằng Sĩ Ðạt Ta trong một tiền kiếp, thời của một đức Phật khác, ngài có đủ khả năng giác ngộ, nhưng vì quá cảm phục sự hiện diện của đức Phật ấy, quá thương xót mọi loài đang còn bị đau khổ, nên ngài quyết định dời lại sự giác ngộ của mình vào một kiếp khác, để có thời gian đào luyện một sự hoàn toàn cho Phật tánh của mình. Mặc dù tâm tự tại của bồ tát và Phật đều bình đẳng như nhau, nhưng năng lực và chiều sâu của lòng từ bi và trí tuệ của Phật có phần hơn, vì sự tiến hóa lâu dài của các ngài.

Một ý nghĩa khác về Bồ tát được lục tổ Huệ Năng diễn tả rõ ràng như sau:

Chúng ta nguyện sẽ giải thoát vô lượng chúng sinh. Câu ấy có nghĩa gì chứ? Nó không có nghĩa là tôi, Huệ Năng, sẽ độ cho những chúng sanh ấy. Và những chúng sanh này là ai? Chúng chính là những ý nghĩ si mê, giả dối, gian ác, bất thiện trong tâm ta. Chúng là những chúng sinh đang cần được độ. Mỗi người chúng ta phải tự độ lấy mình bằng cách thấy được tự tánh của tâm.

Lời nguyện độ vô lượng chúng sinh, có thể được hiểu như là hành động giải thoát cho những sinh linh bên trong tâm ta, như là tâm sân hận, tâm si mê, tâm tham lam, tâm ái dục. Mỗi tâm là một chúng sinh, sanh lên rồi diệt đi. Và ta nguyện sẽ giải thoát hết tất cả những chúng sinh này, giải thoát tâm ta ra khỏi mọi sự bất thiện và không trong sạch.

Thêm một quan niệm khác biệt giữa những trường phái với nhau là quan niệm về Niết bàn (Nivrana) và Vô minh (Samsara). Có trường phái cho rằng Niết bàn là một cái gì nằm bên ngoài tiến trình của thân tâm; có trường phái cho rằng Niết bàn và Vô minh chỉ là một. Làm sao ta có thể dung hợp hai quan niệm hoàn toàn trái ngược nhau như thế? Một cách để hiểu là bạn hãy tưởng tượng đến một trận bảo cuồng phong, gió xoay vần với một tốc độ khủng khiếp. Ở trung tâm của trận cuồng phong này, là một khoảng không gian yên lặng, an tĩnh, "con mắt" của trận bảo. Ðứng trên một phưong diện, thì con mắt của trận bảo hoàn toàn khác biệt với ngọn cuồng phong chung quanh. Mọi vật yên tĩnh, lặng lẽ so với cơn gió lốc đang quay cuồng. Nhưng nếu nhìn từ một phưong diện khác, thì ta có thể thấy "con mắt" và ngọn cuồng phong chỉ là một, chúng chỉ là những phần khác nhau của nột cơn bảo. Tương tự như vậy, xét theo phương diện thì Vô minh và Niết bàn hoàn toàn khác biệt nhau. Một bên là sự thay đổi, biến chuyển liên tục, còn một bên là yên lặng, an tĩnh. Xét theo một phưong diện khác, thì cả hai hợp lại với nhau thành một sự đồng nhất, theo nghĩa đó thì chúng chỉ là một. Khi ta kinh nghiệm được giáo pháp thì những danh từ sẽ trở nên hết sức rõ ràng. Còn khi nào chúng ta vẫn còn dựa trên một bình diện của lý thuyết, của khái niệm, thì những danh từ dùng bởi những trường phái khác nhau, có vẻ như chỉ về những chân lý khác nhau. Thật ra chúng chỉ là những ngón tay khác nhau, cùng trỏ về một mặt trăng.

Có một đoạn văn trích từ trong một quyển kinh của Mật tông Tây Tạng, diễn tả về tâm như là một ngón tay chỉ mặt trăng. Hãy cố gắng kinh nghiệm những lời này thay vì dùng tư tưởng mà suy nghĩ suông:

Thật ra không có vấn đề thị phi, Ða nguyên luận là sai với sự thật. Cho đến khi sự thị phi được chuyển hóa và sự bất nhị được ý thức, giác ngộ sẽ không thể nào đạt đến. Cả Vô minh và Niết bàn chỉ là một thực thể đồng nhất không phân cách, là tâm của ta. Chấp vào những tin tưởng của trần gian, mà mình có hoàn toàn tự do để chấp nhận hay bác bỏ, ta lang thang trong cõi Vô minh. Thế cho nên, tu tập giáo pháp, tự do ra khỏi mọi dính mắc, nắm được cốt tủy của bài học này.

Mặc dù nhất tâm ở đó, nhưng nó không hề hiện hữu. Khi một người đi tìm cái tâm chân thật của mình, họ sẽ khám phá ra rằng nó vô cùng siêu diệu, mặc dù vô hình tướng. Tự tánh của tâm là không che đậy, thanh tịnh, không có cấu tạo, vắng lặng, trong suốt, trống rỗng, bất nhị, bất tận, nguyên chất, không màu sắc, không ngăn ngại, không thể nào được hiểu như là một vật riêng biệt mà là sự đồng nhất của tất cả mọi vật, nhưng không phải được tạo nên bởi những vật khác, nó vượt lên trên tất cả mọi phân biệt.

Nhất tâm vô cùng vắng lặng và không có một nền móng nào hết, tâm của ta cũng trống rỗng như một bầu trời. Muốn biết được việc này có thật hay không, hãy nhìn vào tâm mình. Hiện hữu chỉ là một dòng sông của sự bất thường cũng giống như không khí trong bầu trời, hình tướng của sự vật chẳng có một khả năng quyến rủ hay trói buộc. Muốn biết được việc này có thật hay không, hãy nhìn vào tâm mình. Mọi hình tướng chỉ là ý niệm của mình, sự tự tưởng tượng của mình, cũng giống như những hình bóng trong gương. Muốn biết được việc này có thật hay không, hãy nhìn vào tâm mình. Chúng tự khởi lên và tự do như mây trên trời, mọi hình tướng bên ngoài sẽ dần dần phai mờ đi và trở về nơi xưa, chốn cũ của chúng. Muốn biết được việc này có thật hay không, hãy nhìn vào tâm mình.

Giáo pháp, chẳng hề giữ lại trong tâm, không có một nơi nào để quán chiếu, trừ ra tâm mình. Giáo pháp, chẳng hề giữ lại trong tâm, không có một sự thật nào để giữ một lời nguyện. Giáo pháp, chẳng hề giữ lại trong tâm, không có giáo pháp ở một nơi nào hết, để có thể dựa vào đó mà đi đến giác ngộ.

Tâm của ta trong suốt, không có một đặc tính nào. Vì trống rỗng nên nó được ví với lại một bầu trời không mây. Một tâm đạt được sự bất nhị đem đến sự giải thoát. Ta cứ nhắc đi, nhắc lại một điều, hãy nhìn vào trong tâm mình.

Khi giáo pháp được hiểu một cách thông suốt và sâu xa, ta sẽ thấy rõ rằng mọi phương tiện dẫn đến giải thoát đều giống như nhau. Tất cả chỉ khuyên ta nên tu tập một tâm không chấp hay trụ vào bất cứ một việc gì. Không thiên vị. Không phân biệt. Không phê bình. Không bám víu. Không ghét bỏ. Phương pháp tu tập chỉ là một, cho dù nó phát xuất từ nơi lục tổ Huệ Năng ở Trung Hoa hay từ Sĩ Ðạt Ta Cồ Ðàm ở Ấn Ðộ.

Tipola, một vị thánh Ấn Ðộ và là người thừa kế trong dòng thiền Mật Tông Tây Tạng, cũng dạy một pháp tu tâm y hệt, gọi là Ðại Thủ Ấn (Mahamudra), cho đệ tử mình là Naropa.

Ðại Thủ Ấn vượt ra ngoài mọi văn tự và hình tướng, nhưng vì ngươi Naropa, siêng năng và trung thành, ta sẽ dạy cho. Sự vắng lặng không cần một tin cậy nào. Ðại Thủ Ấn dựa trên sự rỗng không. Không cần một nỗ lực, chỉ giữ cho mình được thư thái và tự nhiên, ta sẽ bẻ gãy được ách nặng, đạt được sự giác ngộ. Nếu sử dụng tâm, ngươi hãy quán chiếu tâm ấy, tiêu trừ mọi sự phân biệt và đi đến quả Phật.

Những đám mây lang thang trên bầu trời không có gốc rễ, không có nguồn cội, cũng giống như những tư tưởng trôi nổi trong tâm ta. Khi thấy được tự tánh, sự phân biệt sẽ chấm dứt.

Trong không gian, có hình tướng và màu sắc, nhưng không gian không bị nhuộm màu trắng hay đen. Từ nơi tự tánh mà vạn vật khởi sinh. Bản chất của tâm không hề bị ô nhiểm.

Ðừng làm gì thân ta cả, hãy thoải mái. Ngậm câm miệng lại mà giữ im lặng. Làm cho tâm vắng lặng và đừng suy nghĩ gì nữa. Giống như một cây tre rỗng không, hãy để cho thân được nghỉ ngơi. Không cho, không nhận, giữ cho tâm yên nghỉ. Ðại Thủ Ấn cũng giống như một tâm không bám víu vào nơi nào. Cứ như vậy mà thực hành rồi một ngày, ngươi sẽ đắc được quả bồ đề.

Kẻ nào bỏ được tham dục và không còn bám víu vào chỗ này hay chỗ kia, sẽ nhận thức được ý nghĩa chân thật của lời kinh.

Vào lúc mới đầu, người hành giả sẽ cảm thấy tâm mình chảy ào ạt như một ngọn thác; vào khoảng giữa nó giống như sông Hằng, chảy lặng lờ, chậm chạp. Vào đoạn cuối nó trở thành một đại dương bao la, nơi mà ánh sáng của Con và Mẹ nhập lại lành Một.

"Kẻ nào bỏ được tham dục và không còn bám víu vào chỗ này hay chỗ kia, sẽ nhận thức được ý nghĩa chân thật của lời kinh". "Phát triển một tâm không trụ vào đâu cả". Buông bỏ mọi bám víu, buông bỏ những quyến luyến là con đường đi đến giải thoát.

Truyền thống thiền phát triển ở Nhật Bản, từ dòng thiền Huệ Năng và các tổ khác, đã sản xuất ra những áng văn chương tuyệt mỹ, thường thì rất là dí dỏm. Một câu chuyện thí dụ về sự buông bỏ và không bám víu được diễn tả theo một lối Zen như sau:

Có một ông giáo sư đại học đến thăm một vị thiền sư. Ông ta cứ mãi mê nói về thiền. vị thầy rót trà ra mời, đổ đầy chén, nhưng cứ tiếp tục rót mãi. Ông giáo sư thấy thế, bảo vị thầy ngưng rót vì chén đã quá đầy, không còn chỗ để chứa thêm nữa. Vị thầy đáp: "Cũng giống như chén trà ấy, đầu ông bây giờ đã đầy ấp những quan niệm và thành kiến, không còn chỗ cho những cái mới nữa. Nếu muốn kinh nghiệm được chân lý, ông phải biết làn cạn chén trà của mình đi trước đã".

Nếu chúng ta cứ mãi mê chấp vào quan niệm và thành kiến của mình, ta sẽ không thể nào kinh nghiệm được sự thật. "Không cần phải đi tìm chân lý. Chỉ cần thôi nâng niu những ý kiến của mình". Bằng sự buông bỏ những thành kiến, với tâm vắng lặng ấy, cả giáo pháp sẽ hiển bày. Mỗi người trong chúng ta phải làm cạn chén trà của mình, khiến cho tâm ta không còn vướng mắc vào những ý niệm hay tín ngưỡng.

Mỗi biểu hiện của giáo pháp có một vẻ đẹp và sự sáng tỏ khác nhau. Chúng ta rất may mắn không sanh ra trong một nền văn hóa bị ảnh hưởng bởi một truyền thống nào duy nhất, nếu chúng ta biết thật sự cởi mở để lắng nghe và cảm nhận được tất cả. Chúng đều cũng chỉ về một chân lý, là trực tiếp kinh nghiệm được giáo pháp ở trong mỗi chúng ta.

Ðức Phật có khuyên: "Ðừng tin một điều gì vì các ông nghe người khác kể lại, vì truyền thống hay vì các ông tưởng tượng ra. Ðừng tin những điều gì các bậc thầy nói, chỉ vì sự kính trọng của các ông đối với những người ấy. Nhưng chỉ tin khi nào chính các ông đã thí nghiệm kỹ lưỡng và thấy rằng nó dẫn đến hạnh phúc, an lạc cho mọi loài".

Hỏi: Tôi hơi bối rối về việc không được có ý kiến. Tôi muốn nói là, sống ở cuộc đời thì dù sao vẫn có biết bao nhiêu việc bắt mình phải chọn lựa...

Ðáp: Chúng ta vẫn dùng trí phân biệt và thiên vị khi nào thích hợp, nhưng vẫn hiểu rằng chúng chỉ thuộc trên một bình diện ý niệm, chứ không phảilà một sự thật tuyệt đối. Sử dụng tiến trình tư tưởng, nhưng đừng dính mắc vào nó. Giống như trong Áo Nghĩa Thư (Bhagavad-Gita) có nói, hành động nhưng đừng bao giờ chấp vào kết quả của chúng. Tương tự như thế, tâm của ta có thể không bị dính mắc vào sự phân biệt và thiên vị, nhưng vẫn có thể sử dụng chúng để đối phó với cuộc đời.

Hỏi: Còn những hoạt động khác thì sao, như là Yoga, thái cực quyền, làm đồ gốm, dệt vải hay bất cứ chuyện nào khác, có thể coi như là một phương pháp tu tập được không?

Ðáp: Mọi việc đều có thể thực hiện được nếu nó được làm với chánh niệm, với một ý thức sáng tỏ, không ham muốn, không bám víu. Cả thế giới này, với 10 vạn nỗi vui mừng và 10 vạn nỗi sầu khổ, đều có đủ đầy để cho ta kinh nghiệm. Việc làm, tự nó không nói lên sự nông cạn hay thâm sâu. Nhưng chính là tính chất của tâm khi làm những công việc, nói lên điều ấy. Một vị thầy Thái cực quyền có thể hoà hợp trọn vẹn với giáo pháp. Một tâm vắng lặng hoàn toàn. Nhưng một người khác có thể tập những cử động y hệt như vậy với một sự vụng về, khẩn trương. Ta có thể đem ra thí dụ biết bao nhiêu hoạt động khác, có khả năng đem lại một tâm hòa hợp trọn vẹn. Biết bao nhiêu việc có thể thực hiện được khi tâm ta được tự do.

Hỏi: Có nơi cho rằng trước hết ta phải đi qua Tiểu thừa (Hinayana), kế đến là Ðại thừa (Mahayana) và sau cùng hết là Kim Cang thừa (Vajrayana). Ði từ thừa này sang thừa khác, mỗi cái có những sự việc khác nhau xảy ra.

Ðáp: Theo ý nghĩa mà bạn nói đó, Tiểu thừa, Ðại thừa và Kim Cang thừa, là những giai đoạn của con đường giác ngộ. Dù bạn có chọn bất cứ một lối tu nào, bạn cũng đều phải trải qua những giai đoạn ấy. Con đường bạn theo có thể là truyền thống Miến Ðiện, Nhật Bản hay Tây Tạng, và trên mỗi con đường, bạn đều phải đi qua những giai đoạn Hinayana, Mahayana và Vajrayana. Sự nhần lẫn phát xuất vì các danh từ ấy cũng có liên hệ đến những truyền thống lịch sử khác nhau. Người ta nhận lầm những giai đoạn trên đường tu với lại những cách diễn tả lịch sử và văn hóa khác nhau của giáo pháp. Vì lý do này nên những ý niệm về các thừa ấy, có lẽ cũng không ích lợi gì cho lắm. Có nhiều giai đoạn khác nhau trên con đường tu tập. Chúng phải được kinh nghiệm. Ðặt tên cho chúng chẳng ích lợi gì, mà đôi khi còn đưa đến một sự hiểu lầm. Có sao thì thấy vậy. Nó là một sự phô bày của giáo pháp trong tâm ta. Chúng ta trải qua biết bao nhiêu kinh nghiệm. Kinh nghiệm, chứ không phảilà khái niệm hay danh xưng, mới là điều tối quan trọng.

Hỏi: Có nhiều truyền thống thiền khác nhau ở những quốc gia khác nhau. Phải chăng chúng cũng chỉ là những lối tiến khác nhau trên con đường tu mà thôi?

Ðáp: Chánh niệm có thể được áp dụng vào bất cứ một đối tượng nào. Bạn có thể áp dụng chánh niệm trên tư tưởng, trên thân thể, vào những đối tượng ngoài thân, vào những đối tượng trong thân, vào tất cả hay một số đối tượng chọn lọc nào đó. Những kỹ thuật và phương thức khác nhau là những phương tiện khác nhau để phát triển chánh niệm. Yếu tố tỉnh thức là cốt tủy của mọi sự thực hành. Từ tâm quân bình đó mà giác ngộ phát sinh. Mọi hiện tượng đều vô thường, cho nên trí tuệ có thể được khai triển trên bất cứ một đề mục nào. Bạn có thể giác ngộ giữa một dòng tư tưởng, giữa một cơn đau, trong khi ăn, trong khi đang đi, bất cứ lúc nào, bởi vì nó phát sinh từ một tâm quân bình, chứ không phải từ sự bám víu vào một đề mục đặc biệt nào.

Hỏi: Có nhiều vị thầy nói về sự nguy hiểm của vấn đề thần thông trong sự tu tập. Ðiều này có nghĩa ra sao?

Ðáp: Năng lực của tâm có thể được phát triển. Nó không phải là trí tuệ. Năng lực và trí tuệ là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Nó có thể nguy hiểm, nếu ta phát triển những thần thông ấy trước khi mình đạt đến một trình độ giác ngộ nào đó. Vi chúng sẽ củng cố thêm cái Tôi, cái ngã của mình, và đôi khi ta có thể lạm dụng chúng. Thần thông có thể trở thành một phương tiện thiện xảo nếu ta có căn bản đạo đức và hiểu biết vững vàng. Nhưng việc phát triển những năng lực này hoàn toàn không cần thiết. Có những bậc giác ngộ mà không có chút thần thông, và cũng có rất nhiều người có thần thông mà chẳng có gì giác ngộ. Tuy nhiên cũng có một số người có được cả hai.

Hỏi: Trong kinh Pháp Cú, đức Phật thường hay nhắc đến quả vị A La Hán. Ðây có phải là một trạng thái giác ngộ hay không?

Ðáp: Ðúng vậy, đây chính là một sự tiêu diệt hoàn toàn tham, sân, si trong tâm, nhờ vào kết quả của một kinh nghiệm Niết bàn. Kinh nghiệm Niết bàn đầu tiên, một cái thoáng nhìn được chân lý tuyệt đối, sẽ tẩy rửa đi được một số tâm bất thiện, tuy một số vẫn còn ở lại. Và khi ta tiếp tục tu tập, thêm một số tâm bất thiện nữa sẽ bị nhổ bỏ. Một vị A La Hán là một người mà mọi điều bất thiện trong tâm đều đã bị loại trừ. Cũng giống như vậy, quan niệm thành Phật trong kiếp này có nghĩa là tự do, không còn bị tham, sân si chi phối nữa. Kinh nghiệm được chân lý thì sự đồng nhất của giáo pháp sẽ được hiểu rõ ràng. Phát triển một tâm không bám víu vào đâu cả. Ðây là cốt tủy của mọi sự tu tập. Nó sẽ trở nên vô cùng giản dị khi ta bắt đầu thực hành.

Hỏi: Ta phải cần những gì để phát triển một trí tuệ thâm sâu? Nó có đòi hỏi một cái gì phi thường không?

Ðáp: Nó chỉ đòi hỏi duy có một điều mà thôi, ý thức được những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại. Nếu chúng ta còn bất cứ một ý niệm nào về những gì đáng lẽ nên xảy ra, ta không thật sự kinh nghiệm được hiện tại. Phương thức là có chánh niệm đối với mọi trạng thái thay đổi của thân và tâm mà không đem lòng ưa thích hay ghét bỏ, không nhận nó là mình. Ðó là trọn con đường đi, từ đầu cho đến cuối. Rồi nó sẽ tự phô bày cho ta thấy hết. Người ta thường không tin rằng sự tu tập giản dị đến như vậy. Thường thường ta hay có một ý muốn làm cho nó phức tạp hơn, nghĩ rằng mình phải kinh nghiệm một số trạng thái xuất thần nào đó mới đúng. Thật ra, ta chỉ cần ngồi lại trong chánh niệm và trở thành một với dòng sông thực tại. Hãy giữ sự giản dị và thư thái.

Hỏi: Tôi tưởng rằng có những lối tu chú trọng về sự phục vụ người khác hơn là lo việc giải thoát cho mình trước?

Ðáp: Mọi con đường đều xoay quanh vấn đề là làm sao nhìn thấy được sự giả tạo của cái Tôi, cái ngã. Một biểu hiện tự nhiên và cơ bản của giáo pháp là lòng Từ và Bi, giúp đỡ lo lắng cho người khác. Ðiều này không có dính dáng gì đến "thừa" nào hay con đường nào mình theo, hay vì một lời nguyện nào. Nó là một sự biểu lộ tự nhiên của tri tuệ. Khi chúng ta không còn bám víu vào ý niệm đây là "Tôi", còn kia là "người khác", ta sẽ bắt đầu kinh nghiệm được sự đồng nhất của mọi loài, và từ sự hiểu biết này phát sinh ra lòng từ bi, sự phục vụ.

Hỏi: Khi chúng ta bắt đầu thực hành, sự thắc mắc về những thừa, cổ xe, con đường khác nhau này có mất đi không?

Ðáp: Tôi có một người bạn là thi sĩ, Tom Savage, có làm một bài thi kết thúc bằng những dòng như sau:

Xe lớn hay xe nhỏ,
Cũng chẳng khác biệt gì!
Chúng cũng bị kéo đi,
Tiền, chủ nhân phải trả.


30 ngày thiền quán
JOSEPH GOLDSTEIN
nguyễn duy Nhiên dịch
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (19-01-2011), admin (21-01-2011), cheznous (20-01-2011)
Old 19-01-2011, 1:03 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Có một lần Tế Điên đã ... vì người chưa điên mà nói:

... Với cái đầu của nhân loại thuộc địa cầu nầy, nếu cứ nhồi nhét kiến thức, kể cả kiến thức tâm linh, các triết thuyết, chũ nghĩa, hay bất cứ lời giảng nàov...v...thì cái đầu vẫn là cái đầu...."copy" ; chỉ khi nào gột rửa ĐƯỢC hết ( nôm na là tẩy não) để có cái đầu thật sự tư do như cái đầu của trẻ thơ 2 tuổi... ( = chưa bao giờ nghe giảng thiên đàng địa ngục, luân hồi nghiệp quả, chứng đắc quả vị v...v...) thì may ra có cơ hội phát triển được cái TRÍ của chính mình ( nôm na là cái trí thông tuệ như phật Thích Ca).

Ngay đọc ... tham luận Phật tánh của bất cứ ai thì cũng ...chỉ mường tượng được chút nhân xét RIÊNG của người đó hạp với tần số của mình, còn chiêm nghiệm thì AI cũng có phật tánh sẽ "biết" một kiểu riêng... bất khả tư nghì vô ngôn vô tướng...

Thiên thu xin thành tâm cảm ơn các bạn đã vì ... chúng sinh cho đọc các tham luận về Phật tánh để "thấy và nghe" rất thuyết phục, nhưng chưa "biết" được tỏ tường.

Xin chào

Thiên thu
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến thien thu 2 vì bài post hữu ích này:
cheznous (20-01-2011), Nhat nguyen (19-01-2011)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
ThÔng ĐiỆp TỪ MỘt BỘ LẠc KỲ BÍ GỞi Cho ThẾ GiỚi VĂn Minh HiỆn Nay dung9610 Tâm linh 15 02-09-2014 2:44 pm
Những tài liệu đáng suy ngẫm! admin Ứng dụng tâm linh vào đời sống 43 07-02-2010 7:51 pm
Tam linh thien dinh thatsonphutu Tâm linh 1 17-10-2009 10:10 pm
Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh ( Mật Tông đại chú ) matma8x Cõi vô hình 7 26-07-2009 1:20 pm
Đời sống hàng ngày của đức phật macvophong Thư giản - Linh tinh 0 06-07-2009 8:06 pm

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles