UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Tâm linh

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Happy new year
Old 02-01-2014, 12:45 am  
haidong
Senior Member
 

Default Happy new year

chúc mừng năm mới
nhân dịp năm mới kính chúc trang gia chủ cùng tấc cả quý vị cùng gia quyến năm mới an khang ,thịnh vượng ,nhiều sức khỏe và mọi điều như ý nguyện
cho phép tôi được kính chúc đến trang chủ ,các bác thiên thu2 ,vô thường,luciola, thatsonphutu ..... Các vị mà bấy lâu nay tôi âm thầm kính mến 1 năm mới thật ý nghĩa ,hạnh phúc và đặc biệt là sức khoẻ luôn dồi dào cùng hạnh thông ví như năm : Mã đáo công thành
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến haidong vì bài post hữu ích này:
liem0962 (06-01-2014), tanuyen (15-02-2014), thien thu 2 (06-01-2014), vothuong (22-01-2014)
Old 06-01-2014, 9:18 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Cảm ơn bạn haidong
( vì thiều đề tài đọc đở buồn nhân dịp... năm mới ế khứa!)

Lão ca ta bận đi chùa "Bà Đanh" đầu năm ( cùng bạn Liem0962) nên không ...có thì giờ up bài nữa !

Thiên thu
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-01-2014, 6:20 am  
haidong
Senior Member
 

Default
CUNG CHÚC TÂN XUÂN
Kính chào Quý vị,
Không còn bao nhiêu ngày nữa thì Cái Tết Cổ Truyền sẽ đến ,hơn 90 triệu con Dân nước Việt ở khắp nơi đang tất bật cho ngày cuối năm sắp đến , vừa để tiễn nàng RẮN ổng ẹo (và độc ác )ra đi vừa để chào đón oai phong trong từng gót chân của chàng MÃ vào nhà cùng những điều mong ước tốt đẹp trong năm mới.Nhân dịp năm mới sắp đến ngoài những lời cầu chúc tốt đẹp gửi đến tấc cả Quý vị , tôi xin nguyện cầu [b][i]với TỔ TIÊN NƯỚC VIỆT và HỒN THIÊNG SÔNG NÚI ,XIN CÁC VỊ HÃY GIA HỘ ĐỘ TRÌ CHO ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC VIỆT NAM LUÔN ĐƯỢC THÁI BÌNH ,ẤM NO và PHỒN THỊNH.Xin các Ngài phù hộ cho mãnh Đất mà các ngài đã gầy dựng và gìn giữ cho con cháu ngày nay sớm không còn những em Bé và Mẹ già phải lang thang trên đường phố vì miếng ăn và xin hãy phù hộ cho những mãnh đời bất hạnh của người Phụ Nữ Việt Nam.Nguyện cầu cho lòng nhân ái của Người Việt thêm sáng ngời hầu theo kịp những tinh hoa trên thế giới.Nếu Quý vị nào có cùng suy nghĩ này xin hãy dành ra vài phút và cùng cầu nguyện !Đây chỉ là suy nghĩ của riêng tôi ,nghĩ sao nói vậy nếu có ai không hài lòng xin đừng cười chê ,đàm tiếu ! CẢM ƠN trước
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ
TIỆT NHIÊN ĐỊNH ĐẠT TẠI THIÊN THƯ
NHƯ HÀ NGHỊCH LỖ LAI XÂM PHẠM
NHỮ ĐẲNG HÀNH KHANG THỦ BẠI HƯ


Kính - haidong
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến haidong vì bài post hữu ích này:
vothuong (22-01-2014), wdan801 (25-01-2014)
Old 22-01-2014, 10:53 am  
vothuong
Senior Member
 
vothuong's Avatar
 

Default
Kính chúc ace gđ nhân điện toàn cầu một năm mới mã đáo thành công!
__________________
Chân lý là thay đổi!

thay đổi nội dung bởi: vothuong, 22-01-2014 lúc 11:02 am.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến vothuong vì bài post hữu ích này:
haidong (17-02-2014)
Old 29-01-2014, 4:53 am  
haidong
Senior Member
 

Default
Đi tìm ý nghĩa tâm linh trong 15 ngày Tết Nguyên Đán
Trong 15 ngày Tết, mỗi ngày đều có một ý nghĩa riêng. Hãy cùng đi tìm ý nghĩa đặc biệt của từng ngày Tết trong tâm thức người Việt…



Công việc sửa soạn cho ngày Tết chính thức bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp Âm lịch. Đây cũng là ngày người Việt cúng Táo quân. Theo quan niệm của người Việt thì ông Táo vừa là thần bếp trong nhà vừa là người ghi chép những việc làm tốt xấu mà con người đã làm trong một năm qua. Ông Táo sẽ lên chầu trời, báo cáo với Ngọc Hoàng những chuyện tốt xấu đó của gia chủ.


Sau ngày 23 tháng Chạp là những ngày giáp Tết, các gia đình đều tranh thủ lau dọn, sơn quét, trang trí lại nhà cửa, vứt bỏ những đồ cũ hỏng, không còn dùng tới, đồng thời, họ cũng chuẩn bị sắm sanh dần cho những ngày Tết sắp đến.
Sau lễ cúng ông Táo, lễ cúng Tất niên 30 tháng Chạp cũng là lễ rất quan trọng trước Tết. Đây là ngày gia đình sum họp, ngồi lại với nhau để ăn cơm tất niên. Buổi trưa hoặc chiều ngày 30 tháng Chạp, người ta thường làm cỗ cúng tất niên, tiễn năm cũ.


Giữa ngày 30 tháng Chạp và ngày mùng 1 tháng Giêng, vào giờ Tý (từ 23h hôm trước đến 1h hôm sau), trong đó thời điểm Chính Tý (0h ngày mùng 1 tháng Giêng), là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Thời khắc này đánh dấu sự chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, được gọi là thời khắc Giao thừa.
Ở thời khắc này, người ta thuờng làm hai mâm cỗ: một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ trong nhà và một mâm cúng thiên địa ở ngoài trời. Cúng Giao thừa theo quan niệm truyền thống là để những điều xúi quẩy của năm cũ đi qua, đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến.


Mâm cúng ngoài trời là để đón các vị Thiên binh nhà Trời. Lúc đó, họ đi thị sát dưới hạ giới rất vội vã, không kịp vào tận bên trong các nhà, vì vậy, bàn cúng được đặt ngay trước cửa chính để các vị Thiên binh chứng giám được lòng thành của gia chủ.
Hết một năm, vị Hành khiển đã cai quản hạ giới trong năm cũ sẽ bàn giao công việc lại cho vị Hành khiển mới. Mâm lễ ngoài trời lúc Giao thừa nhằm thể hiện lòng thành kính, tiễn người nhà Trời đã cai quản mình trong năm cũ trở lại Thiên đình và đón người mới xuống.
Mâm cúng Giao thừa trong nhà là để cúng tổ tiên. Trước khi khấn tổ tiên để mời tiền nhân về ăn Tết cùng con cháu, gia chủ thường phải khấn Thổ Công để xin phép.
Vào đêm Giao thừa, người ta cũng thường đi xem pháo hoa hoặc đi lễ chùa cầu may.


Ngày mùng Một Tết là ngày Tân niên cũng là ngày quan trọng nhất trong toàn bộ dịp Tết. Không kể những người tốt số, hợp tuổi, được mời xông đất, vào sáng sớm ngày này, người Việt cổ thường không ra khỏi nhà, chỉ bày cỗ cúng Tân niên và chúc tụng nhau trong nội bộ gia đình.
Đối với những người con đã tách khỏi cha mẹ ra ở riêng, vào sáng mùng Một, họ sẽ đến chúc Tết bậc sinh thành.
Sáng mùng Một Tết còn gọi là ngày Chính Đán, con cháu tụ họp để dâng hương lên bàn thờ tổ tiên, sau đó chúc Tết ông bà, cha mẹ, các bậc cao niên, huynh trưởng trong nhà. Lúc này, con cháu mừng thọ ông bà, trẻ nhỏ được mừng tuổi.


Người Việt quan niệm rằng nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, may mắn trong ngày mùng Một thì cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào trong nhà đều được coi là người xông đất cho gia chủ. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong năm cũng vì thế mà trở nên quan trọng.
Cho nên cứ đến cuối năm, mọi người thường để ý tìm xem có người quen nào hợp tuổi, hợp mệnh, tính tình vui vẻ, hoạt bát, yên bề gia thất và sự nghiệp vững vàng để nhờ sang xông nhà. Người đến xông nhà thường không ngồi lại lâu, hàm ý chúc cho mọi việc trong năm mới của gia chủ cũng được trôi chảy, hanh thông.
Trong ngày mùng Một, người ta thường xuất hành - đi ra khỏi nhà lần đầu tiên trong năm mới. Việc xuất hành là để đi tìm may mắn cho bản thân và cho gia đình. Trước khi xuất hành, người ta thường xem ngày giờ, phương hướng.


Ngày mùng Hai Tết tiếp tục hoạt động cúng lễ tại gia vào sáng sớm. Sau khi việc cúng lễ xong xuôi, việc thăm hỏi chúc Tết diễn ra thoải mái hơn, người ta có thể đến chúc Tết họ hàng, bạn bè rất vô tư, thoải mái mà không còn lo mình sẽ trở thành người xông nhà “bất đắc dĩ” cho gia chủ nữa.
Đàn ông chuẩn bị lập gia đình sẽ đến nhà cha mẹ vợ tương lai để chúc Tết, con gái đã đi lấy chồng sẽ quay về nhà chúc Tết cha mẹ đẻ và họ hàng.


Ngày mùng Ba Tết, các học trò thường đến chúc Tết thầy cô giáo cũ theo tục “mùng Một Tết cha, mùng Hai Tết mẹ, mùng Ba Tết thầy”.
Trong ngày Tết, người ta thường trao đi những chiếc phong bao đỏ đựng tiền mừng tuổi. Xưa còn có lệ chỉ cho tiền lẻ vào phong bao với ngụ ý số lẻ là còn tiếp tục sinh sôi, nảy nở thêm.


Ngày mùng 4 Tết theo lịch cổ là ngày con nước. Trong ngày này, người Việt làm lễ hóa vàng, tiễn tổ tiên đã về ăn Tết với con cháu, đồng thời, đốt nhiều vàng mã để tiền nhân về cõi âm có thêm nhiều tiền vốn đầu năm. Lễ hóa vàng có thể diễn ra vào ngày mùng 4 hoặc mùng 5 Tết, thường bao gồm cả việc làm cơm cúng.


Ngày mùng 7 Tết được coi là ngày cuối cùng của chuỗi lễ hội Tết Nguyên đán. Trong ngày này, người Việt cổ làm lễ hạ cây nêu, kết thúc dịp Tết Nguyên đán và bắt đầu bước vào việc làm ăn trong năm mới từ ngày mùng 8 hoặc mùng 9 tháng Giêng.


Đến ngày Rằm tháng Giêng, người Việt lại ăn một cái Tết nữa, là Tết Nguyên Tiêu hay còn gọi là Tết Thượng Nguyên. Tết này tổ chức tại chùa và tại gia. Vào ngày Rằm tháng Giêng, các gia đình Việt sẽ tiếp tục làm cơm cúng thịnh soạn dâng lên bàn thờ gia tiên với quan niệm “Giỗ tết cả năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng”.
Đối với người Trung Quốc, Tết Thượng Nguyên mang nhiều ý nghĩa tinh thần. Khi xưa, vào dịp này, những văn sĩ, học giả thường ra vườn, uống rượu, ngắm hoa, thưởng trăng và làm thơ đầu năm.
Rằm Tháng Giêng ở Việt Nam tách khỏi quan niệm này và đưa vào ngày Tết Nguyên Tiêu ý nghĩa tôn giáo, bởi thế mà dân gian còn có câu “Lễ Phật quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng”. Vào ngày này, người Việt sau khi hoàn tất việc cúng bái tại gia, thường lên chùa dâng hương và đặc biệt hay lên chùa vào lúc trời tối, khi trăng tròn đầu năm đã lên cao.
Dù kinh điển nhà Phật không nói đến ngày rằm Tháng Giêng nhưng trong dân gian thì đây là dịp thích hợp để lên chùa dâng sao giải hạn, ước nguyện điềm lành.
tm - nguồn vsn
Đây là do tôi lượm trên mạng để cống hiến Quý vị đọc đỡ buồn
haidong-
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 29-01-2014, 6:07 am  
haidong
Senior Member
 

Default
Kính chào Quý vị ,
Ngày Tết âm lịch thì người Tàu thường chúc nhau NGŨ PHÚC LÂM MÔN ,còn Người Việt mình thì hay chúc nhau DỒI DÀO SỨC KHỎE ,AN KHANG THỊNH VƯỢNG...thiết nghĩ dẫu có cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp như thế ,song tự bản thân chúng ta cũng phải làm gì đó để đạt được những mong cầu cũng như điều được chúc (?).Riêng tôi thì nghĩ rằng :sức khoẻ là quan trọng và mỗi cá thể chúng ta đều có quyền và có thể thay đổi hoặc tránh cái xâu có tác hại đến mình .Chỉ như vậy thì ta mới có thể đạt được điều mong ước và câu chúc : SỨC KHỎE DÔI DÀO , vì vậy tôi xin có đôi lời góp ý về sức khỏe và cũng rât mong Quý vị cùng góp ý ! để tất cả chúng ta gìn giữ tốt hơn sức khoẻ của mình.
Những ngày kề cận tết ai cũng phải chợ búa nấu nướng để cúng và đón Ông Bà,hiện nay hàng hóa Nông hải sản của mình thì...ôi thôi vàng thao lẫn lộn ,nào là HỒN CHINA DA CỦA VIỆT,rồi lại bị hóa chất , nhiễm khuẩn ....tôi xin khuyên Quý vị là hãy xem và chọn kỷ trước khi mua hầu tránh đi độc hại cho sức khoẻ .Tuy không rành lắm nhưng haidong có nghe qua :Hàng rau, củ ,Quả nếu to mộng , hấp dẫn thì chắc chắn rằng nó là loại ...dính hóa chất và những thứ này thì cành lá đi cùng gần như là trơ trụi không có (?)Năm vừa qua Bộ Y tế có lấy 29 mẫu (Nông sản) đi xét nghiệm thì đã có hơn 2/3 nhìễm độc vượt quá chuẩn cho phép gấp nhiều lần,số còn lại tuy nhiễm bị ít nhưng lại....đầy khuẩn Ecoli- nhất là các loại rau sống, rau thơm (Ăn liền không qua nấu chín) thì khiếp vía kinh hồn.Kế đến là phần Mứt tết ,scandal nghe mà thật hãi hùng!Nếu tự làm được thì có lẻ chắc cú hơn .Ngày tết thì ai mà không ăn Bánh Mứt , riêng đấng Mày râu hẳn phải bữa nhậu lai rai cùng Bạn bè , em cháu...xin Quý vị hãy lưu ý dùm các món Lẫu là món khóai khẩu của mọi người - món ăn thiên nhiên tinh khiết thời màu sắc hơi nhợt nhạt không bắt mắt (như loại tẩm hương liệu hóa chất) nhưng nó thơm ngọt đậm đà ,còn trái cây ,củ ,quả nếu là tinh khiết thiên nhiên thì cái to cái nhỏ , bề ngoài thì xần xù không bắt mắt , khó coi nhưng đó mới là hàng của thiên nhiên - thiên nhiên thì có trời có đất ,có âm có dương có trái (Củ)nhỏ lớn không đều...Tôi không có ý làm tổn hại đến nguồn sinh sống của người khác !ngược lại - tôi tôn vinh và kính trọng những con người có lương tâm , làm ăn chất phát - vì ,dẫu là kẻ sang ngừơi hèn tấc thảy đều cần đến sức khoẻ !
Đừng ham của rẻ lại to
Ăn vào mang bệnh ,thêm lo,thêm sầu
Nông Phu,Đất Việt cày sâu
Mồ hôi thấm đất dãy dầu nắng mưa
Dâng đời Sản vật nhỏ,vừa !
Vừa ngon,vừa bổ,lại vừa ý ta
Giúp NÔNG PHU VIỆT,NƯỚC NHÀ
Quanh năm vất vã đậm đà..cơm..rau
Xin người nghĩ đến Đồng bào !
Đừng nghe lời Giặc ,giết nhau vì Tiền !!


BỞI :
Chữ xê(C) đứng trước chữ vê(V)
Chữ xê(C..)thời nghĩa: Chó, Dê không bằng!
Xê (C..), THỜI QUEN THÓI HUNG HĂNG
Ỷ mình lớn mạnh ,xâm lăng láng giềng
Vê(V),thời đất của Dân hiền
Non sông ĐẤT VIỆT ,Tổ tiên giữ gìn
Sản sinh Anh kiệt,Quang minh
Dạy cho con, cháu của mình hiền lương.


kính-haidong
Trả Lời Với Trích Dẫn
Từ thời Bạch dương, qua thời Song ngư, tới thời Bảo bình
Old 14-02-2014, 8:11 pm  
Luciola
Senior Member
 
Luciola's Avatar
 

Default Từ thời Bạch dương, qua thời Song ngư, tới thời Bảo bình
Cung Hoàng đạo và 12 Thời.

1

Trong Hệ mặt trời này, Trái đất, Mặt trăng, Sao kim, Sao hoả,... rất nhiều các hành tinh, rất nhiều các vệ tinh, tất cả đều đang chuyển động. Chuyển động của các hành tinh, của các vệ tinh là khác nhau, không giống nhau. Nhưng tất cả các chuyển động đều quay quanh Mặt trời. Mặt trời là trung tâm, trung tâm của Hệ mặt trời. Hệ mặt trời này có tám hành tinh, năm hành tinh lùn, hàng trăm các vệ tinh và rất nhiều các thiên thể nhỏ. Nếu có hành tinh nào không quay quanh Mặt trời, nó không thuộc về Hệ mặt trời này. Nó không đón ánh bình minh cùng nhân loại.

Các hành tinh, các vệ tinh đều chuyển động theo một quỹ đạo, của riêng mình. Quỹ đạo của các hành tinh là khác nhau. Hành tinh này có quỹ đạo gần tròn, hành tinh kia có quỹ đạo hình Ellipse. Những hành tinh ở gần Mặt trời, có những quỹ đạo hẹp, bán kính quỹ đạo nhỏ. Những hành tinh ở xa Mặt trời, có những quỹ đạo rộng, bán kính quỹ đạo lớn. Hành tinh Diêm vương - Pluto, hành tinh xa xôi, nó xa mặt trời nhất; quỹ đạo ellipse; khi nó xa Mặt trời nhất vào khoảng 7,4 tỷ km; khi nó gần Mặt trời nhất cũng khoảng 4,4 tỷ km. Sao Kim - Venus, nó luôn sáng, nó còn được gọi là Sao Hôm, nó còn được gọi là Sao Mai; vì nó là hành tinh gần Mặt trời; quỹ đạo gần tròn, bán kinh vào khoảng 110 triệu km. Nó gần Mặt trời hơn Trái đất, nó là chị em với Trái đất. Trái đất cách Mặt trời khi xa nhất vào khoảng 152 triệu km, khi gần nhất vào khoảng 147 triệu km. Mỗi hành tinh có một quỹ đạo.

Mỗi quỹ đạo có một chu kỳ. Chu kỳ quỹ đạo của mỗi hành tinh là khác nhau. Trái đất thực hiện một hành trình quanh Mặt trời, vào khoảng 365 ngày, ngày Trái đất. Venus quay quanh Mặt trời vào khoảng 225 ngày Trái đất. Sao Hoả - Mars, có chu kỳ khoảng 687 ngày Trái đất. Pluto, hành tinh xa xôi, hành trình của nó thật mệt mỏi, chu kỳ lên tới 91.000 ngày Trái đất. Các hành tinh luôn chuyển động quanh mặt trời, mỗi hành tinh có một quỹ đạo, mỗi hành tinh có một chu kỳ. Các hành tinh không muốn va vào nhau; các hành tinh chỉ muốn chào nhau.

Các hành tinh còn có các vệ tinh, chuyển động quanh hành tinh đó. Có hành tinh có một vệ tinh, có hành tinh có rất nhiều vệ tinh, có hành tinh không có vệ tinh nào. Mặt trăng là vệ tinh của Trái đất. Pluto, có năm vệ tinh, là Charon, Styx, Nix, Kerberos và Hydra. Sao Thổ - Saturn, một người mẹ đông đúc những đứa con, có 62 vệ tinh; đông đúc quá, con người chưa gặp đủ các mặt, mới chỉ có 53 vệ tinh được đặt tên, là Titan, là Rhea, là Enceladus, là Dione, là Mimas... Các vệ tinh chuyển động quanh hành tinh mẹ theo quỹ đạo khác nhau và chu kỳ khác nhau.

Các hành tinh mẹ: Trái đất, Pluto, Saturn... chuyển động quanh Mặt trời. Các vệ tinh của nó; là Mặt trăng; là Charon, Styx, Nix, Kerberos và Hydra; là Titan, Rhea, Enceladus, Dione, Mimas,... tất cả các vệ tinh cũng chuyển động quanh Mặt trời. Hệ mặt trời này có rất nhiều vệ tinh. Các vệ tinh cũng có quỹ đạo và chu kỳ chuyển động quanh Mặt trời là khác nhau. Những vệ tinh có những quỹ đạo phức tạp hơn rất nhiều những hành tinh. Quỹ đạo của những vệ tinh là tổ hợp của hai quỹ đạo, quỹ đạo quay quanh hành tinh mẹ và quỹ đạo của hành tinh mẹ quay quanh Mặt trời. Tương tự, chu kỳ của nó cũng vậy. Không phải chỉ các hành tinh, các vệ tinh cũng không muốn va vào nhau, chúng chỉ muốn chào nhau.

Các hành tinh chuyển động quanh Mặt trời, các vệ tinh chuyển động quanh Mặt trời, các chuyển động này là khác nhau, khác nhau ở quỹ đạo, khác nhau ở chu kỳ. Nhưng có một điều đặc biệt, tất cả các hành tinh, tất cả các vệ tinh đều có quỹ đạo nằm gần một mặt phẳng, Mặt phẳng Hoàng đạo - Ecliptic. Ecliptic đương nhiên chứa quỹ đạo Kepler, quỹ đạo của Trái đất quanh Mặt trời.

2


Mỗi vì sao, chuyển động xung quanh Mặt trời, nằm trên lân cận Ecliptic; nó không rời khỏi hành trình, nó ổn định trên một quỹ đạo, nó tuần tự theo một chu kỳ. Quỹ đạo của nó, chu kỳ của nó là không thay đổi. Sự không thay đổi này có thể do nhiều quy luật tác động(?), nhưng chí ít là do Tương tác hấp dẫn. Tương tác hấp dẫn - Gravitation do Isaac Newton tìm ra, và được Albert Eistein phát triển lên trong sự bẻ cong không và thời gian. Tương tác hấp dẫn đã giữ cho Trái đất luôn chuyển động quanh Mặt trời theo quỹ đạo Kepler. Tương tác hấp dẫn là nhịp điệu cho tất cả các hành tinh, cho tất cả các vệ tinh nhảy múa theo vũ điệu nhịp nhàng và tuần tự. Vũ điệu đã quay vòng hàng triệu, hàng tỷ năm. Tương tác hấp dẫn là trật tự, trong cái hỗn mang.

Trái đất chịu sự tương tác hấp dẫn của Mặt trời; của Mặt trăng; của Venus là hành tinh chị em với Trái đất; chịu cả sự tương tác hấp dẫn của hành tinh xa xôi Pluto và các vệ tinh của nó; chịu cả sư tương tác hấp dẫn của Saturn và 62 vệ tinh, bao gồm cả những vệ tinh chưa biết tên; Trái đất chịu tất cả các sự tương tác hấp dẫn của tất cả các hành tinh, của tất cả các vệ tinh có trong Hệ Mặt trời và tương tác hấp dẫn với Mặt trời. Điều đó tạo ra quỹ đạo Kepler của Trái đất. Độ lớn của Lực tương tác hấp dẫn phụ thuộc vào khoảng cách tương đối giữa hai đối tượng hấp dẫn nhau. Khi ở gần nhau, lực tương tác hấp dẫn lớn hơn khi ở xa. Lực tương tác hấp dẫn lên Trái đất thay đổi theo vị trí của Trái đất.

Ngoài tác động tương tác hấp dẫn, sẽ còn tác động từ Mặt trời tới Trái đất, từ Mặt trời tới tất cả các vì sao; là một tác động vô cùng huyền diệu và phong phú. Đó là tác động của nhiều dạng năng lượng, bức xạ nhiệt, bức xạ điện, bức xạ từ,... và cả những dạng vô hình, mà con người chưa biết được.

Cũng vậy, tất cả các hành tinh, các vệ tinh, ngoài tương tác hấp dẫn với nhau, sẽ còn có cả những tương tác vô hình mà con người chưa biết được.

Tất cả các tác động và tương tác hữu hình và vô hình lên Trái đất thay đổi theo vị trí của Trái đất. Vì tất cả đều đang chuyển động, vì tất cả các khoảng cách đều luôn thay đổi. Vì tất cả các lực tác động và tương tác đều phụ thuộc vào khoảng cách.

3

Số học, môn toán học cơ bản, có một bài toán là tìm bội số chung nhỏ nhất, của 2, của 3, của 5, của 7 hay nhiều hơn nữa một số các số nguyên. Bội số chung nhỏ nhất là số nguyên nhỏ nhất có thể chia hết cho tất cả các số đó. Như thể 6, là số nhỏ nhất chia hết cho 2 và chia hết cho 3; 21 là số nhỏ nhất chia hết cho 3 và 7.

Tương tự, tất cả hành tinh chuyển động quanh Mặt trời, tất cả vệ tinh chuyển động quanh Mặt trời, sẽ có một chu kỳ chung. Chu kỳ đó là bội số nhỏ nhất của các chu kỳ của các hành tinh, của các vệ tinh. Sau một chu kỳ, một hành tinh bất kỳ, sẽ gặp gỡ lại tất cả các hành tinh khác, gặp gỡ tất cả các vệ tinh, sẽ gặp gỡ lại Mặt trời tại một vị trí như nó đã gặp tại cuối chu kỳ trước. Sau chu kỳ đó, Mặt trời gặp gỡ lại tất cả các hành tinh, tất cả các vệ tinh, tại các vị trí mà trước đây, trước một chu kỳ nó đã gặp.

Đó cũng là chu kỳ của Trái đất. Một chu kỳ, mà Trái đất sẽ gặp gỡ lại tất cả các hành tinh, các vệ tinh, sẽ gặp gỡ lại Mặt trời tại một vị trí như nó đã gặp tại cuối chu kỳ trước. Một chu kỳ, mà Trái đất sẽ trải qua tất cả nhưng tác động và tương tác hữu hình và vô hình, như nó đã biết, lặp lại của chu kỳ trước.

Có một chu kỳ như vậy.

4

Nhưng không chỉ có vậy, bởi lẽ tất cả các tác động và tương tác đã nói ở trên, với Trái đất mới chỉ là một thành phần. Thành phần này, bao gồm và giới hạn trong Hệ mặt trời. Chỉ là tác động và tương tác của Mặt trời; của bảy hành tinh khác: Mercury, Venus, Mars, Jupiter, Saturn, Uranus, Neptune; của năm hành tinh lùn: Ceres, Pluto, Haumea, Makemake, Eris; khoảng hơn hai trăm các vệ tinh tự nhiên và rất nhiều các tiểu hành tinh và các ngôi sao khác trong Hệ mặt trời. Thành phần này, gọi là thành phần tác động và tương tác trong Hệ mặt trời.

Còn một thành phần khác nữa, nằm ngoài Hệ mặt trời.

Hệ mặt trời này, cùng nhiều Hệ mặt trời khác, cùng nhiều Chòm sao khác đang cùng chuyển động trong Giải Ngân hà - Galaxy. Hệ mặt trời này, nhiều Hệ mặt trời khác, nhiều Chòm sao khác, tất cả đều đang chuyển động quanh trung tâm Galaxy. Trung tâm Galaxy là một Hố đen siêu khối lượng, siêu năng lượng, Supermassive black hole. Cũng như trong Hệ mặt trời này, tất cả các hành tinh trong Galaxy đều có tác động, đều có tương tác với nhau và đều chịu sự tác động của Supermassive black hole.

Trái đất, ngoài các tác động và tương tác của Mặt trời, của các hành tinh, của các vệ tinh, trong Hệ mặt trời này; sẽ chịu các tác động và tương tác với Supermassive black hole, với các Hệ mặt trời khác, với các Chòm sao khác. Đó là thành phần tác động và tương tác từ ngoài Hệ mặt trời. Không thể không có. Vì đơn giản, Trái đất đang cùng Mặt trời và các Hệ mặt trời khác đang chuyển động trong Galaxy, đang chuyển động quanh Supermassive black hole.

Chuyển động của Trái đất là một chuyển động phức tạp. Quỹ đạo của Trái đất là tổ hợp của hai quỹ đạo, quỹ đạo Kepler quay quanh Mặt trời và quỹ đạo của Hệ mặt trời quay quanh Black hole. Tương tự cho tất cả các hành tinh và vệ tinh.

Mỗi một vị trí, mỗi một thời điểm trong chuyển động là một trạng thái cân bằng. Trạng thái cân bằng của Trái đất với tất cả các tác động và tương tác trong Hệ mặt trời và cả ngoài Hệ mặt trời. Không cần bằng, Trái đất và tất cả các hành tinh, không còn chuyển động theo quỹ đạo đã định. Vũ trụ không hỗn mang, các hành tinh không va vào nhau, bởi tất cả đều trong trạng thái cân bằng. Trạng thái cân bằng luôn thay đổi, thay đổi theo vị trí. Lúc này, Trái đất đang ở một vị trí xác định trong không gian; trong một trạng thái cân bằng nhất định. Lúc khác, vị trí thay đổi, trạng thái cân bằng này thay đổi; một trạng thái cân bằng khác xác lập. Mỗi một trạng thái cân bằng của một hành tinh, là một hình ảnh riêng biệt về tất cả các tác động và tương tác hữu hình và vô hình, lên nó.

Trạng thái cân bằng luôn thay đổi.

5


Tất cả các chuyển động đều có quỹ đạo, đều có chu kỳ. Sẽ có một chu kỳ chung. Điều này là tương tự.

Cái chu kỳ chung muốn nói đến, là chu kỳ mà sau đó Trái đất chịu sự tác động, sự tương tác; bao gồm cả hữu hình lẫn vô hình; bao gồm cả tác động và tương tác trong Hệ mặt trời và ngoài Hệ mắt trời; cái nó đã gặp trong chu kỳ trước; một sự lặp lại. Một chu kỳ mà Trái đất sẽ trở về trạng thái cân bằng mà nó đã từng biết. Có một chu kỳ như vậy. Chu kỳ mà sau đó, Supermassive black hole gặp lại sự tương tác của tất cả các hành tinh, tất cả các vệ tinh, tất cả các Hệ mặt trời, tất cả các Chòm sao, bao gồm cả tương tác hấp dẫn và tương tác vô hình, như nó đã gặp lại trong chu kỳ trước.

Có chu kỳ đó, chắc là có.

Nhưng để tìm ra nó, như thể tìm ra cái Vô cùng, không dễ. Khó, không dễ vì hai điều. Thứ nhất, Galaxy này có đến trăm tỷ, ngàn tỷ hành tinh. Thứ hai hành trình của các Hệ mặt trời quanh trung tâm Galaxy rất dài lâu. Hệ mặt trời này phải thực hiện một chu kỳ khoảng 230 triệu năm Trái đất. Các Hệ mặt trời khác, các Chòm sao khác cũng vậy, có chu kỳ hàng trăm triệu năm, hàng tỷ năm, khi chuyển động quanh Supermassive black hole. Một chu kỳ chung, chắc là phải qua hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ năm. Nó là điều thuộc về Vô cùng.

Vậy mà, nó có thể nằm trong khoảng thời gian mà con người cổ đã từng biết đến(?) Kinh Veda, có đơn vị thời gian brahma; đơn vị thời gian này thật dài, phải chăng người cổ dùng để tính những chu kỳ tương tự này. Một ngày brahma, Brahma day bằng 4 tỷ 320 triệu năm Trái đất. Một đêm brahma, Brahma nigtht bằng 4 tỷ 200 triẹu năm Trái đất. Một năm brahma, Brahma year bằng 3.110 tỷ năm Trái đất(!). Kiến thức của người cổ là cái mà Charles Darwin đã không biết! Brahma day, Brahma year và rất nhiều những điều tương tự là cái mà Charles Darwin đã không biết! Và rất nhiều người đã bỏ qua.

Chu kỳ chung là cái của Vô cùng. Viết ra, để biết rằng có nó. Nhưng không phải cái mà bây giờ quan tâm. Viết ra, để nói đến một cái khác, hẹp hơn, cụ thể hơn; và linh thiêng.

Vào khoảng 1.700 năm trước Công nguyên, các nhà chiêm tinh Babylon, đã tìm ra một chu kỳ cho Trái đất. Chu kỳ này dường như đã xét đến hai điều. Điều thứ nhất, dường như đã kể đến sự tác động và tương tác của Mặt trời, của tất cả các hành tinh và vệ tinh trong Hệ mặt trời này với Trái đất. Điều thứ hai, dường như kể đến sự tác động và tương tác của một số Hệ mặt trời, một số Chòm sao lân cận, tới Trái đất, tới Hệ mặt trời. Chỉ là 12 Chòm sao, không phải tất cả. Nhưng dường như là những Chòm sao có tác động và tương tác ảnh hưởng nhất với Trái đất, với Hệ mặt trời.

Thực sự nó chưa thể là một chu kỳ chung, phổ quát. Dù có thể tất cả các tác động và tương tác trong Hệ mặt trời đã lặp lại với Trái đất, sau đó. Dù có thể đã có một chu kỳ chung của Hệ mặt trời trong đó. Nhưng thành phần ngoài Hệ mặt trời chưa thể xét hết. Nhiều trạng thái cân bằng của Trái đất sẽ không thể lập lại sau các chu kỳ này. Tất cả các trạng thái cân bằng của Trái đất chưa được kể hết trong chu kỳ này. Cứ tạm gọi nó là chu kỳ.

Chu kỳ đó gọi là Cung Hoàng đạo - Zodiac.

Một Zodiac kéo dài khoảng 26.100 năm Trái đất. Một Zodiac chia làm 12 thời. Trong 12 thời, các thời không bằng nhau, có thời dài hơn, có thời ngắn hơn so với 2.175 năm Trái đất.

Con số 26.100 là con số đặc biệt. Nó tương đồng và phổ quát trong cách chia thời gian, của nhiều nền văn hoá, của nhiều tôn giáo. Sự tương đồng và phổ quát thể hiện qua bội số và ước số của những con số này.

Người India, đơn vị thời gian có vẻ rộng dài. Nhỏ hơn các đơn vị thời gian quá dài như Brahma year, Brahma day và Brahma night; là một Krita yuga bằng 1.728.000 năm Trái đất, bằng 80 lần 26.100. Hay một Treta yuga bằng 1.296.000 năm Trái đất, bằng 50 lần 26.100. hay một Dvapara 2 bằng 864.000 năm Trái đất, bằng 33 lần 26.100. Hay một Kali yuga bằng 420.000 năm Trái đất, bằng 16 lần 26.100. Các đơn vị đó luôn là bội số của một Zodiac. Người India cổ và người Babylon cùng sử dụng con số 26.100 làm cơ số trong đơn vị tính!

Người China có những đơn vị thời gian, dài hơn và nhỏ hơn một Zodiac, nhưng đều là bội số và ước số của 26.100 năm. Người China, chia thời gian thành Nguyên, Hội và Vận. Một Vận bằng 360 năm Trái đất, bằng 1/72 của 26.100; một Hội bằng 10.800 năm Trái đất, bằng 1/2 của 26.100; một Nguyên bằng 129.600 năm Trái đất, bằng 5 lần 26.100. Các đơn vị đó luôn là ước số bội số của một Zodiac. Người China cổ cũng vậy, cùng người cổ India và người Babylon cùng sử dụng con số 26.100 làm cơ số trong đơn vị tính!

Lịch Long Count của người Mayan, đã từng tạo nên những xôn xao về một điểm dừng, điểm chuyển tiếp, ngày 21/12/2012. Người Mayan chia một Long Count thành 5 chu kỳ, một chu kỳ khoảng 5.125 năm Trái đất. Con số 5.125 năm, xấp xỉ bằng 1/5 của 26.100. Sai số của phép so sánh này, là có, nhưng là rất nhỏ, bằng 1,8%. 5 chu kỳ thì bằng một Zodiac; một Long Count bằng một Zodiac! Không chỉ người China cổ, không chỉ người India cổ, không chỉ người Babylon, người Mayan cổ cùng sử dụng con số 26.100.

Zodiac và 12 thời, và con số 26.100 có sự tương đồng và phổ quát, từ Đông sang Tây; từ China, qua India, qua Greece, qua Babylon, tới cả châu Mỹ với người Maya. Nó không hề ngẫu nhiên, nó không hề tuỳ tiện.

Một Zodiac chia làm 12 thời. 12 thời của Zodiac gọi là Aries - Bạch Dương, Taurus - Kim Ngưu, Gemini - Song Tử, Cancer - Cự Giải, Leo -Sư Tử, Virgo - Xử Nữ, Libra -Thiên Xứng, Scorpio - Thiên Yết, Sagittarius - Nhân Mã, Capricorn - Ma Yết, Aquarius - Bảo Bình và Pisces - Song Ngư. Mỗi thời kéo dài khoảng 2.175 năm, năm Trái đất.

12 thời tương ứng với vị trí của 12 Chòm sao. 12 thời là tên của 12 Chòm sao. 12 Chòm sao lân cận với Hệ mặt trời. 12 Chòm sao mà vào đêm đẹp trời, con người có thể nhìn ngắm vẻ đẹp thanh cao của chòm sao này, sự rực sáng của chòm sao kia, sự lung linh duyên dáng của một chòm sao khác. 12 Chòm sao, mỗi chòm một vẻ. Và dường như nó rất gần, rất gần với Trái đất, với đời sống nhân sinh này. 12 Chòm sao này là lân cận, con người luôn nhìn thấy nó, con người đã nhìn thấy nó từ ngàn năm qua, từ triệu năm qua. Nó luôn song hành cùng Trái đất, cùng Hệ mặt trời này. 12 Chòm sao, mà cứ mỗi một thời khoảng 2.175 năm, khi dài hơn, khi ngắn hơn, Trái đất lại đến gần một Chòm sao trong đó. Khi dài hơn, khi ngắn hơn 2.175 năm, có lý do của nó. Đó là trong không gian, có những Chòm sao nằm rộng ra, có Những Chòm sao nằm hẹp lại, không bằng nhau.

Bầu trời rất nhiều sao. Bầu trời hàng ngàn tỷ ngôi sao. Bầu trời không phải chỉ có 12 Chòm sao Zodiac. Sau việc tìm ra 12 Chòm sao này của người cổ Babylon, con người đã lần lượt tìm ra nhiều Chòm sao khác. Nhưng 12 Chòm sao này là cơ bản với những tác động và tương tác với Trái đất. Từ năm 150 trước Công nguyên, Claudius Ptolemaeus, nhà thiên văn học Greece, bổ sung thêm hơn hai chục Chòm sao nữa. Các Chòm sao đó nằm ngoài Zodiac. Nó ở xa hơn, xa hơn 12 Chòm sao Zodiac, so với Trái đất. Thế kỷ 16 - 17, các nhà thiên văn học châu Âu bổ sung khoảng hơn 40 Chòm sao nữa. Các Chòm sao đó, cũng nằm ngoài Zodiac. Nó ở xa hơn, xa hơn nữa. Ngày nay, Hiệp hội thiên văn quốc tế (IAU) đã xác định được 88 Chòm sao; đồng thời xác định rõ ranh giới của các Chòm sao. IAU đã chia bầu trời thành 88 vùng ranh giới rõ ràng, có phương vị cho từng vùng. 12 Chòm sao Zodiac là những Chòm sao nằm ngay trên đường chuyển động của Trái đất, của Hệ mặt trời.

12 Chòm sao này là những Chòm sao cơ bản. Cơ bản vì nó là lân cận, nó là gần. Cơ bản vì nó tác động và tương tác nhiều hơn cả với Trái đất, với Hệ mặt trời. Cơ bản vì cứ mỗi một thời khoảng 2.175 năm, Trái đất lại đến gần một Chòm sao. Cứ thế tuần tự. 26.100 năm lại một vòng mới bắt đầu.

6

Tác động và tương tác của 12 Chòm sao này tới Trái đất là mạnh mẽ. Nó đã cùng Mặt trời, các hành tinh và các vệ tinh trong Hệ mặt trời; nó cùng với Black hole tạo nên quỹ đạo và chu kỳ của Trái đất; tạo nên những trạng thái cân bằng của Trái đất. Trạng thái cân bằng của Trái đất thể hiện các tác động và tương tác của Mặt trời, các hành tinh và các vệ tinh trong Hệ mặt trời; của Black hole; và của 12 Chòm sao; chí ít là như vậy.

Tác động và tương tác của Black hole mạnh mẽ, xa xôi và ổn định. Mạnh mẽ vì nó đang kéo tất cả, tất cả các Hệ mặt trời, tất cả các Chòm sao, tất cả các hành tinh và vệ tinh nhảy múa về với nó. Xa xôi và ổn định vì hành trình quanh Black hole là hàng tỷ, chục tỷ năm. Nên vài trăm ngàn năm sẽ là rất nhỏ, nhỏ so với cả hành trình; nhưng với đời sống và lịch sử nhân loại thì nó quá dài, để coi là ổn định.

Tác động và tương tác của Mặt trời, các hành tinh và các vệ tinh trong Hệ mặt trời thì tuần tự. Chu kỳ Trái đất quanh Mặt trời 365 ngày Trái đất. Chu kỳ Venus quay quanh Mặt trời 225 ngày Trái đất. Chu kỳ Mars quay quanh Mặt trời 687 ngày Trái đất. Chu kỳ Pluto, quay quanh Mặt trời 91.000 ngày Trái đất... Tất cả là tuần tự và ổn định. Ổn định như đã nhiều lần, nhiều triệu lần lập lại như trước đây.

Vậy chỉ còn lại tác động và tương tác của 12 Chòm sao Zodiac lân cận này, là có thể biến đổi. Một thời chỉ là 2.175 năm. Từ chịu sự tác động và tương tác rất gần với một Chòm sao này, chuyển sang chịu sự tác động và tương tác rất gần một Chòm sao khác. Từ chịu sự tác động và tương tác rất gần với Chòm sao Aries, chuyển sang chịu sự tác động và tương tác rất gần với Chòm sao Pisces.

Vậy thì Trái đất có biến đổi. Trạng thái cân bằng của Trái đất phải thay đổi.

Sự chuyển Thời của Trái đất là mạnh mẽ. Đó là kết luận của các nhà Chiêm tinh người Babylon; đó là kết luận của người Greece, người Ancient Rome. Plato, triết gia người Greece, người đầu tiên đã chỉ ra rằng, có một lục địa là Atlantis với nền văn minh huy hoàng, đã bị chìm dưới đáy biển cách đây hơn 10.000 năm; vì sự chuyển thời của Zodiac.

Môn khoa học Động lực học - Dynamics giải thích vấn đề này một cách dễ dàng. Trái đất không đồng nhất, chỗ là đồng bằng, chỗ là núi non, chỗ là cao nguyên, chỗ là biển cả; đấy là bề mặt. Trái đất không đồng nhất, cả bên trong. Bên trong trái đất có một lõi cứng, nằm trong một lớp lỏng; ngoài lớp lỏng có nhiều lớp, dày mỏng khác nhau; thay đổi theo mặt ngoài. Trục Trái đất đang nằm nghiêng khoảng 23,5 độ. Tại thời điểm chuyển Thời, các tác động và tương tác với Trái đất thay đổi về phương, thay đổi về chiều và thay đổi về độ lớn; vật thì trạng thái cân bằng mới được thiết lập. Trái đất tự cân bằng, cân bằng với tất cả các tác động và tương tác mới. Nếu có sự khác biệt là rất lớn giữa hai Chòm sao lân cận nhau; vậy thì đó là sự thay đổi lớn. Với một sự thay đổi cực lớn đó, Trái đất sẽ dịch chuyển cực, Trái đất sẽ chuyển cực; là điều bình thường. Bình thường theo môn khoa học Dynamics; không thể bình thường với đời sống nhân sinh.

Đó là lý do giải thích tại sao Atlantis bị chìm, Trái đất chuyển cực.

Nhưng thật không dễ để tạo nên sự đổi cực của Trái đất mạnh mẽ, dù có thể trong quá khứ đã xảy ra. Bởi lẽ, Trái đất cũng như tất cả các hành tinh khác đang chịu sự tác động và tương tác của Mặt trời, của tất cả các hành tinh gần gũi trong gia đình Hệ mặt trời; Trái đất còn đang chịu sự tác động và tương tác của Supermassive black hole,... Vậy thì sự thay đổi tác động và tương tác của một Chòm sao này bằng một Chòm sao khác trong Zodiac, chỉ là một thành phần. Phải là sự thay đổi lớn lao lắm, mới có thể tạo nên sự chuyển cực mạnh mẽ. Không dễ dàng để tạo nên một Đại hồng thuỷ.

Nhưng biến động tại điểm chuyển Thời là sự thật.

7

Trong thiên văn học, có một từ là Precession, là tiến động, là tuế sai: sai số trong một năm. Precession nói về sự chuyển cực của Trái đất. Sự chuyển cực này được tích luỹ hàng năm. Sự chuyển cực này, do Trái đất tự cân bằng với các momen xoay, nảy sinh do sự không đồng nhất của Trái đất, dưới tác động và tương tác từ bên ngoài Trái đất.

Nó có vẽ giống cái đang trình bày, giống vì đều là tạo nên sự chuyển cực. Nó cũng bắt đầu từ sự không đồng nhất của Trái đất.

Nhưng thực sự nó là khác, rất khác nhau. Nó không thể là như nhau. Không thể như nhau, chỉ đơn giản về vật lý; không cần bất kỳ một cách diễn giải nào khác. Precession luôn xảy ra. Tất cả các tác động và tương tác trong Hệ mặt trời, cùng với tất cả các tác động và tương tác ngoài Hệ mặt trời với Trái đất; nếu không đổi, bằng hằng số; precession vẫn xảy ra. Dù Pisces mãi mãi quay cùng Trái đất, quay cùng Hệ mặt trời, dù không có 11 Chòm sao khác của Odiac, dù không có 87 Chòm sao khác của Galaxy, presession vẫ luôn xảy ra. Luôn xảy ra, từng giây, từng phút và tích góp lại theo thời gian.

Cái vừa trình bày; sự chuyển cực của Trái đất, chỉ xảy ra khi chuyển Thời; chỉ xảy ra khi có sự thay đổi cực kỳ lớn với các tác động và tương tác với Trái đất.

Hai hiện tượng là khác nhau. Precession cái thuộc về riêng Trái đất. Zodiac cái thuộc về Trái đất, thuộc về Mặt trời và thuộc về 12 Chòm sao. Cả hai đều gây nên sự chuyển cực.

8

Và không chỉ có vậy. Không chỉ có sự thay đổi mạnh mẽ vào lúc chuyển Thời. Một thời mới bắt đầu với một không gian khác hẳn. Một thời mới bắt đầu với một không gian nhân sinh khác. Một thời mới bắt đầu với một không gian tâm thức khác. Một không gian mới được xác lập là kéo dài trong cả hai ngàn năm. Đó đặc điểm của Thời; nó là sự khác nhau giữa thời Aries với thời Pisces; nó là sự khác nhau giữa thời Pisces với thời Aquarius.

Dừng lại một chút ở điều này. Nó là điều quan trọng.

Tôi cần tới một lý thuyết mới, Lý thuyết dây - String theory. Một lý thuyết mới xuất hiện ở cuối thế kỷ hai mươi. Tôi không coi nó là một Lý thuyết cho tất cả - The Theory of Everything. Nhưng thực sự, nó tương đồng trong nhiều mặt. Và trong chủ đề này, nó có sự tương đồng lớn lao.

Cho đến nay, khoa học vẫn cho rằng: vật chất được cấu tạo từ các phân tử. Cơ thể sống được cấu tạo từ các tế bào. Tế bào, phân tử được cấu tạo từ các nguyên tử. Nguyên tử được tạo thành từ một hạt nhân mang điện tích dương nằm ở tâm và các electron mang điện tích âm chuyển động xung quanh. Hạt nhân và các electron được cấu tạo từ các hạt cơ bản. Mọi vật đều được cấu tạo từ những hạt cơ bản.

String theory nói hạt cơ bản chưa phải cái cuối cùng. Cơ bản của vật chất là dây. String theory mô tả các hạt cơ bản bằng một dây, một chuỗi, một string. Các dây - strings này luôn dao động. Tần số dao động là đặc trưng của string. Tần số dao động là dấu vân tay của string. Và như vậy, Trái đất được cấu tạo bởi vô số string. Con người được cấu tạo bởi vô số string. Các vì sao được cấu tạo bởi vô số string. Không gian nhân sinh sẽ có vô số string. Tất cả các string đều đặc trưng bằng các tần số dao động. Tổ hợp nhiều tần số dao động sẽ có một tần số dao dộng chung. Trái đất sẽ có một tần số dao động chung. Con người sẽ có một tần số dao động chung. Các vì sao sẽ có một tần số dao động chung. Không gian nhân sinh cũng có một tần số dao động chung. Không gian tâm thức có một tần số dao động chung.

Cuối thế kỷ hai mươi, còn một thành tựu khoa học nữa, việc tìm ra Hạt của Chúa, hạt Higgs. Mô hình chuẩn - Standard Model trong vật lý hiện đại, đã chứng minh rằng, mỗi một loại lực trong tự nhiên có một loại hạt kèm theo. Lực tương tác hấp dẫn, người ta chưa tìm thấy hạt của nó, người ta gọi là Hạt của Chúa. Hạt của Chúa đã được tìm ra, cũng cần được nhắc đến công lao của Peter Higgs, Francois Englert và các cộng sự.

Hạt của Chúa cũng được mô tả bằng string. Lực tương tác hấp dẫn của Mặt trời, lực tương tác hấp dẫn của các hành tinh trong Hệ mặt trời, lực tương tác hấp dẫn Black hole, lực tương tác hấp dẫn của các Chom sao Zodiac,... tất cả các lực tương tác với Trái đất cũng được mô tả bằng các string. Các string có các tần số dao động. Tất cả các lực tương tác trong và ngoài Hệ mặt trời có một tần số dao động chung.

Cùng tất cả các tác động hữu hình khác, bức xạ nhiệt, bức xạ điện, bức xạ từ,... Cùng tất cả những tác động vô hình sẽ có một tần số dao động chung. Đó là điều tương tự.

Vậy thì tần số dao động chung này, tần số dao động chung của tất cả các tác động và tương tác; nó sẽ dẫn dụ, nó sẽ lôi kéo, nó sẽ cưỡng bức, nó sẽ hoà đồng, nó sẽ cộng hưởng với tần số dao động chung của Trái đất; với tần số dao động chung của con người; với tần số dao động chung của không gian nhân sinh; với tần số dao động chung của không gian Tâm thức.

Một Thời mới, có một không gian hoàn toàn mới; có những tần số dao động mới.

9

Tần số càng cao, năng lượng càng lớn. Đó là điều dễ dàng chấp nhận.

Tần số càng cao, càng thanh nhẹ. Không gian tâm thức, không gian vô hình dường như sãn sàng chấp nhận điều này.

Không gian vật chất, không gian vũ trụ, dường như có cân nhắc, suy tư. Tương tác hấp dẫn cho rằng, lực hấp hấp tỷ lệ với khối lượng. Các hành tinh có khối lượng càng lớn, lực tương tác hấp dẫn càng lớn. Các phương trình chuyển động của Isaac Newton, của Albert Eistein chứng minh điều đó. Khối lượng tỷ lệ thuận với lực, với năng lượng; năng lượng tỷ lệ thuận với tần số dao động; vậy thì khối lượng phải tỷ lệ thuận với tần số dao động chứ? Vậy thì tần số càng cao, càng nặng nề chứ?

String theory đã tìm ra sự tương đồng lớn lao hơn thế.

String theory chứng minh được rằng trong mỗi string có một Độ căng. Độ căng càng lớn thì năng lượng của string càng lớn; đó là sự thật. Một dây đàn căng, cần một lực lớn hơn để buộc nó cất tiếng ngân. Cùng với điều đó, các nhà khoa học lại chứng minh ra rằng, Độ căng tỷ lệ nghịch với khối lượng. Khối lượng liên quan đến Hạt của Chúa, hạt Higgs, hạt graviton, liên quan đến lực hấp dẫn. Lực Hấp dẫn lại vô cùng nhỏ. Nên Độ căng của String vô cùng lớn, nó có giá trị khổng lồ. Nó là Độ căng Planck, nó bằng khoảng ngàn tỷ tỷ tỷ tỷ tấn (39 số 0 sau số 1). Chuỗi có Độ căng không có dây nào có thể so sánh được. Vậy thì khối lượng không thấp tháp gì để làm gia tăng năng lượng, để làm gia tăng tần số dao động. Độ căng nó chiếm trọn vẹn ảnh hưởng trong sự gia tăng tần số rồi.

String có tần số dao động cao, có năng lượng sẽ lớn, có Độ căng lớn, sẽ có khối lượng nhỏ. Tần số càng cao, càng thanh nhẹ.

Đó là điều chúng ta thấy. Thời của Aries, Con người, Trái đất và Bầu trời hoà quyện với nhau trong Sự sống mở. Thời Pisces, các tần số dao động rơi xuống, năng lượng thanh cao rơi xuống, rơi xuống tần số dao động nặng nề chậm chạp của vật chất. Con người, Trái đất và Bầu trời đứt đoạn. Và sẽ sang thời Aquarius, các tần số dao động sẽ thăng lên. Sự tương đồng sẽ tái lập; một không gian mới hoà bình và sáng tạo đang tới.

Chúng ta sẽ dần cùng tìm hiểu và cảm nhận.

Thời Pisces đã qua, thời Aquarius đã tới, Trái đất đón nhận một không gian mới, với các tần số dao động đang thăng lên, là một sự thật. Một không gian mới đang hình thành.


Thời Aries - Bạch dương, Sự sống tương đồng, Con người mở.

Thơ ca, âm nhạc, điêu khắc, vũ điệu, truyền thuyết, sử thi, anh hùng ca và cả những cuộc chinh chiến, tất cả đều giao hoà với nhau. Đấy là cái tổng thể toàn vẹn; cái hiện hữu và cái vô hình cùng hiện diện. Trái đất cùng Bầu trời, Con người cùng Thượng đế và thần linh; tất cả thành một Cộng đồng lớn. Đồng thời với nhau bởi nó cần cùng tồn tại như thế. Thiện và ác giao hoà. Cái này cần cái kia và cái này thiếu cái kia chỉ là một nửa, không vẹn toàn.


Trước khi Jesus Christ ra đời, trước khi Dương lịch bắt đầu, kéo dài hơn hai ngàn năm trước đó, đó là thời Aries - Bạch dương. Thời Aries, đó là một thời Hoàng kim. Trước thời Aries, là thời Taurus - Kim ngưu, cũng là một thời Hoàng kim. Hai thời Hoàng kim liên tiếp nhau. Thời mà, Sự sống là sự sống mở, Con người mở, Bầu trời mở. Sự sống là tương đồng.

Không gian hữu hình và không gian vô hình hoà quyện, trộn lẫn trong nhau. Thần linh và con người cùng yêu đương, cùng giận hờn, cùng tham gia sáng tạo Sự sống và rồi cũng cùng nhau tranh đấu trong những cuộc chiến tương tàn. Thần linh giao hoà cùng con người.

Trong cuộc sống nhân gian, con người nhận thức sự tương đồng sâu sắc. Thơ ca, âm nhạc, điêu khắc, vũ điệu, truyền thuyết, sử thi, anh hùng ca và cả những cuộc chinh chiến giao hoà với nhau. Đấy là cái tổng thể toàn vẹn. Trong cái này có cái kia. Cái này khác cái kia, nhưng tất cả dường như là giống nhau. Tất cả cùng trong sự tương đồng.

Sự chuyển động của các vì sao và đời sống nhân sinh như có sự tương đồng. Hành trình của Trái đất qua các Thời như hành trình thăng lên, giáng xuống của Linh hồn nhân loại. Hơi thở nhọc nhằn của Trái đất trên hành trình Zodiac như hơi thở Luân hồn của những kiếp nhân sinh. Con người hoà đồng cùng vũ trụ.

Sự sống chỉ mở, khi có Con người mở.

Đó chính là bốn chiều của Sự sống mở, của bốn chiều của Sự sống tương đồng, bốn chiều của thời Hoàng kim.

1

Xin bắt đầu cuộc chiến của những người cổ. Cuộc chiến thành Trojan. Cuộc chiến giữa người Achaian và người Trojan, xảy ra vào khoảng thế kỷ 13 trước Công nguyên. Nhưng đây lại là cuộc chiến do thần linh xúi đẩy; lại là cuộc chiến có thần linh tham gia.

Ba nữ thần Athena, Aphrodite và Hera tranh nhau quả táo vàng, với lời đề tặng, tặng người đẹp nhất. Người có bổn phận phải phán quyết ai được quyền giữ quả táo, là Paris, hoàng tử thành Trojan. Paris đã chọn Aphrodite. Chọn Aphrodite, vì Aphrodite hứa sẽ ban cho Paris người phụ nữ đẹp nhất.

Rồi, Paris tới viếng thành Sparta, được vua Sparta là Menelaus trọng đãi. Và rồi, Paris đã gặp Helen, vợ của Menelaus, một người có sắc đẹp phi thường. Từ ánh nhìn đầu tiên, Helen đã chiếm trọn trái tim Paris. Được nữ thần Aphrodite giúp đỡ, Paris đã quyến rũ được trái tim của Helen. Khi Paris rời Sparta, Helen đã bỏ Menelaus, trốn theo Paris.

Cuộc chiến bắt đầu. Trong cuộc chiến, các thần linh phân hóa họ thành hai phe. Phe ủng hộ thành Trojan gồm thần chiến tranh Ares, thần sắc đẹp tình yêu Aphrodite, cùng thần ánh sáng Apollo. Phe kia thì nổi lên là nữ thần trí tuệ Athena, người ủng hộ nhiệt thành cho Odysseus và nữ thần hôn nhân Hera, đơn giản là đối đầu với Aphrodite.

Trong chiến tranh, nhiều khi là cuộc chiến của thần linh. Nếu quân Trojan áp đảo quân Achaian phải lui về phía sau, đó là do Ares ủng hộ. Nếu binh linh Achaian có hành động thực sự khác thường, đó là do có Athena giúp đỡ. Xạ thủ trở thành tài ba là do Apollo trao cung tên; thợ săn trở nên lành nghề là do Artemis huấn luyện... Các thần linh đã tham gia say sưa vào cuộc chiến; không khác gì Hektor, can trường, quả cảm, khiến quân thù quân thù khiếp sợ; không khác gì Odysseus đa mưu túc trí, tinh thần kiên cường, thể xác tráng kiện, kinh nghiệm già dặn; không khác gì Achilleus bách chiến bách thắng và luôn u sầu.

Nhưng rồi, kết thúc cuộc chiến, lại không phải do các thần linh. Hera luôn ghen tuông, không thể muốn kết thúc chiến tranh. Chiến tranh kết thúc cũng không do Apollo, thần của ánh sáng, chân lý và nghệ thuật; cũng không do, Athena, nữ thần luôn ngẩng cao đầu nhìn thẳng, trí tuệ và chính nghĩa. Kết thúc chiến tranh bởi một con người, không thần linh, không á thần, Odysseus. Odysseus và ý tưởng con ngựa gỗ đã kết thúc chiến tranh Trojan. Odysseus, người kết thúc cuộc chiến, người có một Tình yêu vĩ đại với hoà bình và hạnh phúc, với gia đình và quê hương.

Cuộc chiến thành Trojan, một cuộc chiến không phát sinh bởi thù oán của hai bên. Cuộc chiến, máu đỏ, đầu rơi, chết chóc, buồn đau, nhưng không có hận thù. Trong cuộc chiến, sau cuộc chiến người Trojan và người Achaian vẫn thờ chung thần linh, hai bên đều nói chung thứ tiếng. Trong cuộc chiến, tướng lĩnh của hai bên, tưởng là kẻ thù; nhưng không, trong họ có sự kính trọng sâu sắc. Priam, cha của Hektor, người cha đau khổ và tuyệt vọng; bất chấp nguy nan, không màng tủi hổ, không quản sượng sùng, không ngại bẽ bàng, không hề sợ hãi; dấn thân tới trước quyền uy, đến gặp Achilleus, vị tướng tài ba, bách chiến, bách thắng, luôn giận, luôn buồn; người đã hạ gục Hektor. Đến để nói lên rằng, hãy dừng việc kéo lê cái xác của Hektor, bằng ngựa chạy quanh thành. Achilleus và Priam, một kẻ chiến thắng, một kẻ chiến bại, họ đã cư xử với nhau thượng võ hơn cả khi họ trên lưng ngựa ở chiến trường. Achilleus, với lòng cương dũng khác thường, tự tay nâng thi hài Hektor lau rửa sạch sẽ, thoa dầu đầy đủ, rồi đặt lên giá để quan tài. Tạm thời dừng cuộc chiến, để thực hiện đám tang cho Hektor, đám tang của một người anh hùng.

Bởi lẽ, hai bên chiến đấu vì danh dự, thể diện, lẽ phải của một cá nhân, lẽ phải của một quốc gia, và cái lẽ được cho là phải của từng vị thần.

Đó là hình ảnh của cuộc sống cổ Greece.

Cũng vậy, ở China cổ; Kong Fzu, Sima Qian thường luyến tiếc về một thời, thời Ngũ đế.

Đó là thời của Yellow Emperor - Hoàng đế. Đó là thời của Zhuanxu - Chuyên Húc; đó là thời của Emperor Ku - Đế khốc; đó là thời của Emperor Yao - Đế Nghiêu; đó là thời của Đế Thuấn - Emperor Shun. Các vị vua, họ là những vị thần, truyền thuyết để lại như vậy. Họ sinh ra đã là thần, thần ẩn trong một kiếp người. Nhưng họ tham gia vào cuộc sống nhân sinh. Vị vua này phát minh ra cách làm nhà, đóng xe thuyền, may được quần áo ngũ sắc. Vị vua khác sáng tạo ra chữ viết cổ. Vị vua khác nữa chế kim chỉ nam, làm lịch, y thuật,... Họ không trị nước, trị dân. Họ tạo dựng một Sự sống.

Sau năm vị đế này, là Hạ Vũ - Yu the Great. Yu là một vị vua huyền thoại ở China cổ đại, nổi tiếng về phát triển kỹ thuật trị thuỷ các dòng sông, phục vụ nhân sinh. Nhưng không chỉ có vậy, truyền thuyết kể lại rằng, Yu đã ăn, đã ngủ chung với nhân dân lao động. Yu đã dành hầu hết thời gian của mình để cùng lao động cải tạo các dòng sông, kéo dài hàng chục năm trời.

Lao Tzu, trong năm ngàn chữ viết Tao Te Ching, đã nhiều lần, nhiều lần nhắc đến người cổ, nhắc đến thời của người cổ. Chương 65, Ông đã viết rằng:

"Người cổ, đạo trị nước không làm cho dân khôn lanh cơ xảo,
mà làm cho dân đôn hậu chất phác.
Dân khó trị là vì nhiều trí mưu.
Nên dùng mưu trị nước là cái hoạ cho nước,
không dùng mưu trị nước là cái phúc cho nước."

Các vị vua cổ, họ là những vị thần. Nhưng họ không lấy phép thần thông ra để trị dân, trị nước. Họ không dùng đức Nhân ra để dụ, họ không mang quan niệm Nghĩa ra để đe, họ không vác Lễ ra doạ, họ không khuân Pháp để bó buộc, họ cũng không khiêng Thuật ra trị. Họ chỉ làm cho nhân dân đôn hậu chất phát. Họ không cai trị dân, họ sống cùng nhân dân. Họ đi vào Sự sống cùng nhân dân. Họ tham gia Sự sống cùng nhân dân. Họ cùng nhân dân sáng tạo Sự sống. Họ dạy bảo nhân dân Sự sống tương đồng.

Đó là hình ảnh của cuộc sống China cổ.

Thế giới hữu hình hòa hợp một cách tự nhiên với thế giới vô hình. Con người, thần linh, á thần cùng nhau yêu đương, cùng nhau ghen tuông và giận dỗi. Thần linh xúi dục chiến tranh của con người. Thần linh hào hứng tham dự, tham dự không thua gì những chiến binh quả cảm và tài ba. Thế giới thần linh và thế giới con người hoà quyện. Nhân dân, vua và thần linh cùng tạo dựng Sự sống. Cùng đắp mương, cùng nạo vét dòng sông. Cùng ăn, cùng ngủ, miệt mài chinh phục những dòng sông. Cùng sáng tạo để Sự sống phát triển và sinh sôi.

Thần linh tạo ra cuộc chiến, nhưng thần linh không kết thúc cuộc chiến. Con người, chính con người yêu hoà bình, yêu Sự sống kết thúc chiến tranh. Thần linh cùng con người sáng tạo Sự sống; nhưng chính con người, con người mới hưởng thụ Sự sống sâu sắc và toàn vẹn nhất.

Thời của Sự sống mở; con người mở, bầu trời mở. Không gian hữu hình và không gian vô hình tương đồng với nhau; hoà quyện với nhau. Không phải các thần linh giáng xuống. Không phải con người thế gian thăng lên. Vẫn vậy. Nó là như vậy. Vì đơn giản rằng trong Thời này, tần số dao động chung của Trái đất thanh cao, tần số dao động chung của con người thanh cao, tần số dao động chung của không gian nhân sinh thanh cao, tần số dao động chung của không gian Tâm thức thanh cao.

Tất cả đều thanh cao. Cái thanh cao hoà quyện với nhau. Một cái thanh cao, một cái không thanh, vậy sẽ rời rạc và đứt đoạn. Tất cả thanh cao, tương đồng nảy sinh. Hiện hữu rõ ràng. Vô hình hữu hình hoà quyện. Đó chính là Sự sống tương đồng.

2

Tương đồng, là Analogia, một từ gốc tiếng Italia; English là Analogy.

Analogy, trong khoa học có một ngành Analogy, nó phát triển từ khoa học xã hội sang các ngành công nghệ. Trong nhiều ngành công nghệ, nó là bộ môn phỏng sinh học, Biomimetic. Người ta học cái tự nhiên đưa vào trong công nghệ. Khi thiết kế chế tạo tàu ngầm, người ta mô phỏng theo cơ thể con cá mập. Người ta hy vọng có một con tầu giảm tối đa lực cản nhớt trong môi trường nước, như cá mập. Khi thiết kế chế tạo máy bay, người ta nghiên cứu cơ thể con chim ưng và đôi cánh của nó; người ta ước mơ tới sự tăng tốc độ của một mô hình khi động học tối ưu. Khi đầu tư các dàn khoan ngoài biển, loại tự nâng jack up, người ta mơ tưởng tới cấu trúc ống tre, bền vững dẻo dai. Khi sản xuất các bồn chứa dầu, người ta ngắm nghía hình dáng của giọt nước, nghĩ đến một bể chứa dầu không có lực căng thành bể. Niels Bohr, nhà khoa học, nhà triết học, người Denmark, người đặt nền tảng cho Cơ học lượng tử, đã có một sáng tạo lớn lao; khi đã tương tự hoá mô hình của Hệ mặt trời, thu gọn vào mô hình trong Nguyên tử. Biomimetic có muôn kiểu, muôn dạng tương tự, học của tự nhiên.

Nhưng nó không phải sự tương đồng, không phải analogy của người cổ. Nó là tương tự. Nó là một thứ tương đồng đứt đoạn. Nó là một thứ tương đồng phân mảnh. Họ đã chẻ nhỏ tự nhiên ra để tương tự hoá.

Tương đồng là phổ quát và liên thuộc.

Sự chuyển động của các Chòm sao và số phận con người có tương đồng. Mặt trăng và thuỷ triều của biển cả có tương đồng. Mặt trời và những cơn bão có tương đồng. Đời sống của nhân loại và từng con người có tương đồng. Tương tự, con số, màu sắc, âm thanh và các hình dạng đều có sự tương đồng. Mỗi thứ một khác, nhưng tựu trung vẫn tương đồng với nhau.

Thơ ca, âm nhạc, điêu khắc, vũ điệu, truyền thuyết, sử thi, anh hùng ca và cả những cuộc chinh chiến, tất cả đều giao hoà với nhau. Đấy là cái tổng thể toàn vẹn; cái hiện hữu và cái vô hình cùng hiện diện. Trái đất cùng Bầu trời, Con người cùng Thượng đế và thần linh; tất cả thành một Cộng đồng lớn. Đồng thời với nhau bởi nó cần cùng tồn tại như thế. Thiện và ác giao hoà. Cái này cần cái kia và cái này thiếu cái kia chỉ là một nửa, không vẹn toàn.

Tương đồng của người cổ là như vậy. Người cổ quan niệm rằng: giữa mọi sự vật, giữa mọi sự việc, giữa mọi hiện tượng, giữa mọi dấu hiệu, giữa mọi hình dạng, giữa mọi chất liệu, giữa mọi tính chất của hiện hữu đều có sự giống nhau; nhưng giữa mọi sự vật, sự việc, hiện tượng, dấu hiệu, hình dạng, chất liệu, tính chất của hiện hữu cũng có sự khác nhau. Tất cả đều khác biệt, nhưng vẫn đồng nhất; tất cả đều như vậy.

Bộ sách cổ của người China, I Ching, nó có đây gần năm ngàn năm. Là thứ sách như vậy và hơn thế nữa. Nó đã mô tả toàn bộ hiện hữu; mô tả vũ trụ, các vì sao; mô tả cơ thể con người; mô tả các mùa thời tiết; mô tả sông núi ruộng đồng; mô tả cỏ cây hoa lá; mô tả tất cả mọi sự vật, mọi hiện tượng bằng các hào, bằng các quẻ. Chỉ bằng các hào, các quẻ. Mô tả các diễn biến của vũ trụ; mô tả thăng trầm của một thời đại; mô tả sự nhọc nhằn của các kiếp nhân sinh bằng các hào, các quẻ. 6 hào, 64 quẻ cùng với lý âm dương, cùng với lý tương sinh tương khắc của năm hành: đất, gỗ, lửa, nước và kim loại; thâu tóm cả đất trời, vũ trụ và con người. Qua đất, gỗ, lửa, nước và kim loại, trong cái này luôn có cái kia. Qua 6 hào, 64 quẻ nhân lên từ 6 hào, cái này dịch chuyển, cái kia dịch chuyển biến đổi theo. Trong đời sống nhân sinh của con người, có cả cái xoay vần của vũ trụ, có cả chuyển tiếp của các mùa, có cả sự lên xuống của các triều đại, có cả mềm mại của những dòng sông, có cả ầm ỹ của biển cả... tất cả, tất cả. Vì tất cả đều từ năm hành, sáu hào mà ra; rồi chuyển dịch, rồi biến hoá; nhưng có biến hoá cũng chỉ trong sự giới hạn năm hành và sáu hào, không thể thêm hào nào nữa.

Nó không phải sách bói. Nó không phải là triết học; nó không mang trên mình nó những tư tưởng, những phương pháp luận, những mệnh đề. Nó đơn giản là sách về Nhận biết; dạy cách nhận Nhận biết trong sự tương đồng.

Nó là thứ kiến thức rất cổ xưa, nhưng đến nay, đã không còn nguyên vẹn. Kong Tzu có diễn giải I Ching trong Thập dực. Nhiều người viết về nó, diễn giải nó. Nhưng tất cả, đều nhìn từ thế giới này, đều nhìn từ thời của Pisces, vào nó. Tất cả đều nhìn nó bằng cách nhìn của logic, nhưng đứt đoạn và rời rạc.

Cái ngày nay nhìn thấy nó, nhìn thấy I Ching, không hẳn là nó. Nó còn những tầng sâu, những tầng sâu hơn nữa. Cái mà tưởng rằng: giữa mọi sự vật, giữa mọi sự việc, giữa mọi hiện tượng, giữa mọi dấu hiệu, giữa mọi hình dạng, giữa mọi chất liệu, giữa mọi tính chất của hiện hữu đều có sự giống nhau; nhưng giữa mọi sự vật, sự việc, hiện tượng, dấu hiệu, hình dạng, chất liệu, tính chất của hiện hữu cũng có sự khác nhau; với I Ching, dường như không chỉ có vậy. I Ching còn hơn thế nữa.

3

Cùng với I Ching, người cổ còn ba bộ kiến thức khác nữa. Đó là Kinh Veda, cái cao nhất, cái dạy về Linh hồn và Sự sống. Thứ hai, The Egyptian Book of the Dead, dạy về Chết, dạy cái cao nhất của Sống. Thứ ba Zodiac, cái dạy về Vũ trụ về sự chuyển động của Trái đất và các vì sao.

Người ta thường nghĩ, Kinh cổ Veda dạy sự chuyển đổi kiến thức. Điều đó là nhầm lẫn. Điều đó là ngu xuẩn. Không phải là kiến thức. Coi Veda là kiến thức đã làm mất đi sự linh thiêng của Kinh, làm mất đi sự minh triết của Veda. Nó là Kinh về nhận biết, về tỉnh táo. Veda có bốn bộ: Rg - Veda, Yajur - Veda, Sama - Veda, và Atharva - Veda. Thánh điển Upanishads, diễn giải Kinh cổ Veda, coi như phần mở rộng của Veda. Purana Bhagavata có thể được coi là kinh Veda thứ năm. Tất cả đều dạy về nhận biết và tỉnh táo.

Kinh Veda, là thứ dạy cho con người cổ về Linh hồn. Linh hồn tối thượng, Thượng đế, Phạm thiên, Brahman là thực thể duy nhất. Linh hồn là nơi một thế giới siêu việt, tinh túy, rạng ngời. Linh hồn là một thứ không bắt đầu và sẽ không kết thúc, không sinh ra, không chết đi; vĩnh viễn. Thế giới này, được tạo ra từ Linh hồn, và cũng sẽ nhập về lại với Linh hồn. Con người là sản phẩm sáng tạo của Linh hồn. Cơ thể con người chỉ là vỏ bọc của một mảnh, một mảnh vô cùng nhỏ của Linh hồn, là nơi trú ngụ của một mảnh Linh hồn; là hiện thân của Linh hồn, của Thuợng đế, của Brahman. Veda nói về những điều như vậy, một thứ tri thức Tối thượng.

Tri thức thứ hai, đứng sau tri thức của Veda, đứng trước tri thức Zodiac. Đó là The Egyptian Book of the Dead, đến nay nó thất lạc; cái còn lại là truyền thuyết là huyền thoại; không còn một chút vết tích vật chất. May mắn, nhân loại còn một thứ tương tự, The Tibetan Book of the Dead. The Tibetan Book of the Dead dạy con người trong lúc cận tử, sao cho chết được an bình, sao cho sau khi chết có thể tới được cảnh giới phúc lạc hơn. Tri thức của người Tibet nó không cổ xưa và linh thiêng bằng của Egypt. Cũng như tri thức của người Tibet, sách của người Egypt là một sơ đồ, dạy cho con người cổ chọn thời điểm tái sinh theo vòng luân hồi, để thực hiện tốt hành trình trở về với Thượng đế. Dạy con người về Chết, cái đỉnh cao của Sống.

Zodiac, tri thức thứ ba. Zodiac là một loại tri thức đặc biệt. Thứ tri thức này, nó không thuộc về Chiêm tinh, nó không thuộc về Thiên văn, nó không thuộc về Vật lý vũ trụ, nó càng không thuộc về String Theory,... nó không thuộc về bất kể một ngành nào. Zodiac nó nói về chuyển động của Trái đất trong Hệ mặt trời và bay qua các Chòm sao; nó nói về sự thăng lên và giáng xuống của Trái đất, khi qua các Chòm sao. Nhưng không chỉ có vậy.

Bộ ba tri thức này, dạy con người cổ những kiến thức về nhận biết và tỉnh tao. Bộ ba tri thức này, dạy con người cổ hành trình trở về với Linh hồn tối thượng, trở về với Thượng đế, trở về với Brahman. Cũng như tất cả các giáo lý Tôn giáo khác và sau này, đều dạy con người về với Thượng đế, về với Niết bàn. Nhưng bộ ba tri thức này, dạy con người cách về với Linh hồn tối thượng, cách về với Thượng đế không chỉ khi còn đang sống; mà còn dạy con người cách về với Linh hồn tối thượng, cách về với Thượng đế cả khi chết.

Zodiac không chỉ nói về chuyển động của Trái đất trong Hệ mặt trời và bay qua các Chòm sao; nó không chỉ nói về sự thăng lên và giáng xuống của Trái đất, khi qua các Chòm sao. Nó đã cùng với The Egyptian Book of the Dead, nó đã cùng với The Tibetan Book of the Dead chỉ ra sự thăng lên, chỉ ra sự giáng xuống của Linh hồn. Nó đã chỉ cho con người cổ thời điểm cần thiết để tới Trái đất vào thời của Hoàng kim, hay vào thời của Khải huyền, hay vào một Thời nào khác mà con người cần phải trải nghiệm. Nó dạy cho những mảnh Linh hồn cách hoàn chỉnh hành trình để về với Linh hồn tối thượng, về với Thượng đế, về với Brahman.

Có phải chăng nhờ Veda, Zodiac, The Egyptian Book of the Dead mà rất nhiều, rất nhiều các bậc thày trí huệ cùng xuất hiện ở trái đất cách đây khoảng 2500 năm. Đó là thời điểm, mà ở India có Gautama Buddha; ở China có Lao Tzu, Kong Tzu; ở Iran có Zarathustra, ở Anatolia có Heracleitos, ở Egypt có Toth, ở Greece có Thales, có Pythagoras, có Socrates,... Sau đó muộn mặn hơn, bốn năm trăm năm sau, là sự xuất hiện của Jesus Christ. Họ đã chọn thời điểm về trái đất theo Zodiac, The Egyptian Book of the Dead và The Tibetan Book of the Dead; để thực hiện nhiệm vụ của mình, phải chăng là như vậy? Ta sẽ quay lại câu chuỵen này, trong bài tiếp sau.

Veda, Zodiac, I Ching, The Egyptian Book of the Dead, The Tibetan Book of the Dead là những tri thức như vậy; là những tri thức về nhận biết và tỉnh táo, cho cả khi sống và khi chết; trong sự tương đồng giữa Con người và Vũ tru.

4

Người cổ được học các tri thức cổ minh triết, nhưng tri thức phát sinh trong Thời của người cổ. Nhưng làm sao, làm sao con người cổ được học những thứ minh triết như vậy.

Đơn giản vì con người cổ là con người mở. Con người mở, là con người tần số dao động cao, thanh nhẹ.

Tri thức cổ Phương đông cho rằng, con người ngoài cơ thể vật lý: thân mình; tay chân; các hệ thống tuần hoàn, hô hấp, bài tiết; hệ thống thần kinh và não bộ; còn có các luân xa, còn có ba trung tâm năng lượng.

Trung tâm ở thấp nhất, gần rốn. Đây là trung tâm bảo toàn năng lượng; nó sản sinh, nó phục hồi năng lượng. Trung tâm này dồi dào, con người khoẻ mạnh, tinh thần phấn chấn. Trung tâm thứ hai, nó gần tim. Đây là trung tâm của tình yêu. Khi con người biết yêu, trung tâm này đầy. Khi con người biết yêu, con người sáng tạo. Khi tình yêu siêu việt lên không mục đích, không quan hệ, không đối tượng; thứ tình yêu thuần khiết và siêu việt; đó là khi con người kết nối được với trung tâm thứ ba. Trung tâm thứ ba, nó ở giữa hai bán cầu đại não. Đây là trung tâm nhận biết. Kinh nghiệm về phúc lạc, kinh nghiệm về giải thoát, kinh nghiệm về Thượng đế, kinh nghiệm về Niết bàn sẽ đến từ trung tâm này.

Đó là ba trung tâm năng lượng. Các trung tâm năng lượng này được tích tụ từ sự thiền định; các trung tâm này được bổ sung từ năng lượng của thiên nhiên, từ năng lượng của vũ trụ. Luân xa là cách cửa để năng lượng vũ trụ đi vào. Luân xa là cánh cửa giao hoà giữa con người và vũ trụ. Luân xa là cầu nối của sự tương đồng.

Đó là đặc điểm của con người cổ, con người mở.

Kinh Purana Bhagavata, được gọi là kinh Veda thứ năm có một đoạn đã viết thế này:

“Kinh Veda, được chia là ba bộ môn, thuyết về sự sống huyền diệu như là linh hồn cao khiết. Tuy nhiên đạo đức và sự huyền diệu của Veda đề cập qua những từ ngữ chuyên biệt, và ta (Krishma) cũng được thỏa mãn bởi những cách mô tả kín đáo này.

Âm vận cao khiết của Veda rất khó hiểu. Nó được diễn tả trên những mức độ khác nhau, trong prana, tri thức và trí tuệ. Âm vận Veda không có giới hạn, rất sâu đậm, và không thể hiểu, mênh mông như biển cả. Vì không giới hạn, không thay đổi, và quyền năng của Thượng đế tối cao hiện diện trong mọi sinh vật; ta (Krishma) tạo ra sự rung động của âm vận Veda dưới hình thức omkara trong mọi thể sống.

Vì vậy nó phải được nhìn một cách tài tình, như một sợi tơ mong manh của ngó sen. Giống như là một con nhện nhả tơ từ trái tim qua miệng của nó. Cá thể tuyệt vời của Thượng đế tối cao, diễn tả chính Ngài như là bầu không khí trinh nguyên phản ánh sống động, gồm tất cả tinh thần Veda cao cả và tràn đầy phúc ấm bình an. Như vậy Thượng đế, từ không gian e-te của trái tim ngài sáng tạo ra âm vận Veda hùng mạnh và không giới hạn, qua sự trợ lực của trí tuệ Ngài, làm phát sinh ra những âm thanh muôn màu sắc như những sparsas. Âm thanh Veda vang dội ra ngàn hướng, tạo ra nhiều chữ khác nhau, bùng phát từ một âm vận đơn thuần, “om”: những phụ âm, nguyên âm, âm gió và bán nguyên âm.

Veda từ đó phát triển ra tập hợp mớ động từ phong phú, được diễn tả qua nhiều hình thái, mỗi hình thái lại có thêm 4 tầng nhiều hơn tầng trước nó. Tuyệt diệu hơn nữa là Thượng đế lại lôi kéo mọi hình thức âm vận Veda trong sự diễn tả của Ngài về cho chính Ngài. Những hình thái Veda là Gayatri, Usnik, Anustup, Brhati, Pankti, Tristup, Jagati, Aticchanda, Atyasti, Atijagati và Ativirat.

Trong toàn thế giới, chỉ có mình ta, không có ai khác, thật sự hiểu được mục đính của kiến thức Veda. Con ngườ thực sự không biết Veda diễn tả cái gì trong sự kết hợp với thần karma-kanda; hay mục tiêu nào đã được nêu lên trong những phương thức thờ phụng tìm thấy trong kinh upasana-kanda; hay một điều gì đã được bàn thảo một cách cặn kẻ trong quá nhiều giáo lý khác nhau, trong chương jnana-kanda của kinh Veda.”

Lời kinh linh thiêng này, phải chăng đã nói rằng Veda có 4 tầng âm thanh. Cái con người bình thường nghe thấy, bằng tai, bằng năm giác quan, bằng trí óc tư duy, bằng cảm nhận của xúc cảm thông thường; chỉ là thứ âm thanh trần trục.

Ba tầng âm thanh kia thanh cao hơn, ba tầng âm thanh kia linh thiêng và ẩn sâu bên trong. Mỗi một tầng có một tần số riêng; tần số riêng của tầng sau cao hơn, cao hơn rất nhiều của tầng trước. Chỉ có Krishma mới nghe được các tầng âm thanh đó. Chỉ có các Buddha, là các Christ mới nghe được các tầng âm thanh đó. Chỉ có họ mới nắm bắt được các tần số dao động cực kỳ cao vợi này.

Phải chăng trong con người cổ, con người mở, mỗi trung tâm năng lương tương ứng với một tần số dao động. Ba trung tâm năng lượng có ba tần số dao động. Mỗi tần số của các trung tâm năng lượng này, có phải chăng tương ứng với một tần số âm thanh Veda, mà Krishma nói tới, trong kinh Purana Bhagavata. Khi con người nhận biết càng cao, đạt tới tỉnh táo tối thượng, đạt tới tầm trung tâm năng lượng thứ ba; thế thì con người bắt được cái tần số mà Krishma bắt được. Chắc là vậy, đương nhiên là vậy. Không thể khác được.

Thứ âm thanh cao nhất, thứ âm thanh mà Krishma, mà các Buddha, các Christ nghe được, đó là thứ âm thanh thu gồm toàn bộ năng lượng của vũ trụ và bao quát hơn cả vũ trụ; thứ không thể chia cắt bởi thời gian hay không gian. Thứ âm thanh, thứ tri thức của Linh hồn tối thượng, của Thượng đế.

Con người cổ, những con người của Thời Aries, của Taurus, có một số ít, rất ít người thành Buddha, thành Christ; không thể nhiều. Nhưng khi Trái đất ở tần số dao động cao, khi không gian nhân sinh ở tần số dao động cao, thì con người ở tần số dao động cao, thì không gian tâm thức nhân loại ở tần số dao động thanh cao. Những con người đấy là những con người mở.

Sự sống mở, sự sống tương đồng chỉ có, khi có Con người mở.


Ghi chú:
1. Các triều đại China cổ.
Yellow Emperor - Hoàng đế (2697 TCN – 2598 TCN).
Zhuanxu - Chuyên Húc (2514 TCN – 2436 TCN).
Emperor Ku - Đế khốc (2412 TCN - 2343 TCN).
Emperor Yao - Đế Nghiêu (2337 TCN–2258 TCN).
Đế Thuấn - Emperor Shun ( ~ 2184 TCN)
Yu the Great (2205 TCN – 2198 TCN)
2. Vào khoảng thế kỷ 1200 ~ 1300 TCN.
3. Thời điểm ra đời của Kinh Veda, có những ý kiến khác nhau, xa nhất là 5000 TRCN, gần nhất vào khoảng 1500 TCN.
4. Thời điểm ra đời của I Ching vào khoảng 3000 TCN.
5. Thời điểm ra đời của The Egyptian Book of the Dead vào khoảng 3000 TCN.


Thời Song ngư, cuộc sống đứt đoạn, con người đóng

1

Khi Lao Tzu than rằng:

"...Đạo mất, nảy ra Đức,
mất Đức, nảy ra Nhân,
mất Nhân, nảy ra Nghĩa,
mất Nghĩa, nảy ra Lễ.
Lễ là cái vỏ mỏng của lòng Trung tín,
là đầu mối của loạn..."

Đó là khi Chòm sao Pisces bắt đầu ảnh hưởng. Thời Hoàng kim đã lùi vào dĩ vãng. Dưới ảnh hưởng của Pisces, các tần số dao động giáng xuống. Tần số dao động chung của Trái đất giáng xuống; tần số dao động chung của con người giáng xuống; tần số dao động chung của không gian nhân sinh giáng xuống; tần số dao động chung của không gian Tâm thức giáng xuống. Đó là thời Khải huyền. Trong thời Khải huyền, tất cả đều giáng xuống.

Con người thời Hoàng kim gọi là con người cổ. Con người thời Khải huyền, Hamvas Béla, nhà triết học người Hungary, gọi là con người lịch sử. Con người cổ, con người lịch sử hai cụm từ đúng và đẹp.

Tần số dao động giáng xuống, con người lịch sử chìm vào vùng tần số vật chất. Con người lịch sử mất đi sự cởi mở hân hoan của thời hoà bình; thời của cái đẹp, thời của sự trù phú. Con người lịch sử chìm đắm trong thú vui vật chất. Càng chìm sâu vào vật chất, lòng tham của con người càng ngày càng lớn. Lòng tham làm mất đi sự tươi tắn, thuần khiết và hào hùng của con người. Càng tham con người càng trở nên ngu muội, tăm tối. Càng tham lam con người trở nên hận thù, bạo hành và phân chia.

Hamvas Béla nói rằng, có một bức màn ngăn cách, ngăn cách giữa thời Hoàng kim và thời Khải huyền. Trước bức màn, mọi hiện hữu đều rõ ràng; sau bức màn, mọi thứ đều tối đi, cái hiện hữu phải tìm kiếm. Trước bức màn là Sự sống mở, liên tục và tương đồng; sau bức màn cuộc sống đứt đoạn, rời rạc và tăm tối. Trước bức màn là hoà bình, trù phú; sau bức màn là chiến tranh, phân chia và thù hận. Tôi đồng ý với điều này.

Con người lịch sử biến Sự sống mở, liên tục và tương đồng thành cuộc sống đứt đoạn rời rạc và tăm tối. Có những đặc điểm của cuộc sống ở thời này, đó là mâu thuẫn và tách biệt.

2

Tần số dao động rớt xuống, rớt xuống tần số vật chất. Con người lịch sử nhìn hiện hữu không còn sự tương đồng. Sự sống mở, sự sống tương đồng thay bằng đời sống của hai mặt đối lập. Tất cả đều đối lập: ánh sáng và bóng tối, ngày và đêm, thiện và ác, tích cực và tiêu cực, đẹp và xấu, giàu và nghèo,... Không có cái nào một mình, luôn có cái đối lập của nó; và dường như chỉ có hai cái đối lập với nhau; không còn những cái khác quanh nó. Mối liên hệ với tất cả những cái khác, sự tương đồng của mọi chiều, không còn quan trọng; với nó, trước mặt là cái đối lập.

Ánh sáng chỉ thấy bóng tối. Với ánh sáng dường như bóng tối là tất cả. Nhiều khi, nó quên đi; quên đi vẻ đẹp lãng mãn, mơ màng, u buồn và sâu lặng của ánh trăng; nó quyên đi sự mượt mà, êm ái, man mác của chiều tà; nó quên đi vẻ hồ hởi, tưng bừng, rực rỡ, sảng khoái của những tia nắng sớm,... Nhiều khi, nó quyên đi, nó không thể thấy những cái khác; nó chỉ thấy nó và cái đối nghịch của nó: bóng tối. Các mặt đối lập khác trong cuộc sống, dường như đều như vậy. Chúng chỉ thấy chính mình và cái đối lập.

Tần số dao động rớt xuống, rớt xuống tần số vật chất. Mối quan hệ giữa hai cái đối lập là mâu thuẫn; không phải là sự tương đồng và cũng chả còn sự khác biệt, mà là mâu thuẫn. Vẻ đẹp lung linh muôn màu, đa dạng, nhiều chiều, nhiều sắc thái, nhiều cung bậc biến mất. Sự sinh động của những nông sâu, của những chiều kích khác nhau, biến mất. Tất cả các khác biệt, chuyển về một màu; màu xám xịt, màu mâu thuẫn. Chỉ còn mâu thuẫn. Mâu thuẫn là sự khác biệt có tính đối kháng. Đối kháng giữa hai mặt đối lập. Mâu thuẫn, trong nhiều nơi, khi nhiều lúc, dường như là duy nhất; duy nhất với con người lịch sử. Càng tham, lòng tham ngày một nhiều hơn, sự tham càng không được thoả mãn; con người sẽ hằn học, con người sẽ hẹp hòi, con người sẽ đố kị; con người đó sẽ bỏ qua, bỏ qua tất cả các mối liên hệ khác. Họ chỉ nhìn thấy mâu thuẫn; mâu thuẫn và mâu thuẫn. Mâu thuẫn phát sinh từ sự tham lam không được thoả mãn. Con người càng không thoả mãn, con người đó càng thấy mâu thuẫn của sự vật, của sự việc, của chính bản thân càng mạnh mẽ, càng khủng khiếp.

Khi con người tham, sự hài hoà, sự hỗ trợ, sự tương đồng; sự khác biệt, tất cả dường như mờ nhạt, mờ nhạt so với mối quan hệ mâu thuẫn giữa hai cái đối lập. Tất cả đều là mâu thuẫn. Đó là đặc điểm thứ nhất của thời Khải huyền.

Có rất nhiều mâu thuẫn trong quan hệ của con người với con người, của con người với tự nhiên. Mâu thuẫn tôn giáo; mâu thuẫn chính trị; mâu thuẫn tư tưởng; mâu thuẫn kinh tế; mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích. Mâu thuẫn giữa đẹp và xấu, giữa đúng và sai, giữa tích cực và tiêu cực, giữa hài lòng và không hài lòng; có vô vàn mối kiểu mâu thuẫn.

Trong mối quan hệ với thiên nhiên, tất cả các ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh tế... thực sự đã phát triển, đã đang vận hành chỉ vì một mục đích. Mục đích duy nhất: giải quyết mối mâu thuẫn của hai mặt đối lập; giữa đẹp và xấu, giữa đúng và sai, giữa tích cực và tiêu cực, giữa hài lòng và không hài lòng, giữa tiện ích và không tiện ích... Mục đích duy nhất để đẹp, đúng, tích cực, hài lòng, tiện ích,... ngày một nhiều hơn, ngày một đậm hơn, ngày một chất lượng cao hơn. Tất cả không ngoài mục đích đó.

Càng đi sâu vào giải quyết mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập, mâu thuẫn đó càng ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn, phức tạp hơn và mạnh mẽ hơn. Cái gọi là đẹp, là đúng, là tích cực, là hài lòng, là tiện ích,... luôn luôn được định nghĩa lại, được xác định lại kích cỡ, giới hạn và chất lượng. Thế kỷ mười chín sự hài lòng và không hài lòng phân biệt ở mức độ cơ khí, động cơ đốt trong. Thế kỷ hai mươi sự hài lòng và không hài lòng phân biệt ở mức độ bán dẫn và điện tử. Một trăm năm sau, thế kỷ hai mươi mốt sự hài lòng và không hài lòng phân biệt ở mức độ vi mạch, mức độ nano, mức độ trí tuệ nhân tạo. Luôn luôn thế, mỗi ngày một gia tăng, cao cấp hơn, tinh vi hơn và phức tạp hơn.

Trong mối quan hệ giữa con người với con người, tất cả mọi ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị và cả tôn giáo,... cũng vậy. Tất cả chung một mục đích: giải quyết mối mâu thuẫn của hai mặt đối lập. Các mối mâu thuẫn luôn luôn được con người làm nảy sinh ra nhiều hơn, mở rộng ra phức tạp hơn, làm cho sâu sắc và đối kháng hơn. Các mối mâu thuẫn luôn biến đổi. Với con người lịch sử, mâu thuẫn đầu tiên giữa con người với con người là mâu thuẫn quyền lợi giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Rồi hình thành thêm mâu thuẫn giữa các tôn giáo. Rồi hình thành thêm mâu thuẫn giai cấp. Mâu thuẫn giai cấp được những người cộng sản coi là mâu thuẫn đối kháng. Giải quyết mâu thuẫn đối kháng phải bằng đấu tranh, phải bằng bạo lực cách mạng. Tất cả các cuộc chiến tranh trong thời Khải huyền đều vì mâu thuẫn, đều đi giải quyết các vấn đề của mâu thuẫn.

Hành trình lịch sử của thời Khải huyền là hành trình giải quyết các mối mâu thuẫn. Con người lịch sử đã cho rằng giải quyết các mối mâu thuẫn là động lực phát triển xã hội. Con người lịch sử đã cho rằng sự tiến hoá của con người thông qua quá trình giải quyết các mâu thuẫn. Không phải toàn bộ con người lịch sử đã coi như vậy; nhưng là phần đông, rất đông đã coi như vậy; phải giải quyết mâu thuẫn, phải giải quyết bằng bạo lực cách mạng; không giải quyết mâu thuẫn xã hội con người không phát triển, không tiến hoá!

Với tôi, đấu tranh để tiêu diệt cái đối lập, đó là con đường sai lầm của cuộc sống. Đấu tranh để tiêu diệt cái này, thì cái khác nảy sinh. Nó sẽ nảy sinh, nó sẽ mọc mầm ngay từ lúc đấu tranh. Sự mọc mầm có thể từ cái xác của cái bị tiêu diệt, có thể là vậy. Sự báo thù. Hận thù đã tạo ra, thù hận đòi được trả; đó là lẽ của kẻ đi đấu tranh. Đấu tranh sẽ gặp phải đấu tranh. Nhưng có một điều quan trọng hơn nữa. Là từ trong nội tại của kẻ đấu tranh. Sự mọc mầm luôn có, từ trong bản thể của lực lượng đấu tranh, từ trong lòng của nó. Bởi lẽ đơn giản, khi đấu tranh nó đã tạo ra hận thù ở trong lòng rồi. Ham muốn, thù hận, tức giận,... nó luôn thôi thúc trong lòng của kẻ đấu tranh; nó là năng lượng để tranh đấu; nó phát triển, nó bùng nổ và nó sản sinh, nó tồn đọng, nó bồi tích. Nó có một phần bùng nổ, bùng nổ ra ngoài, tiêu diệt kẻ đối lập. Nó có một phần tích tụ lại, nó sẽ tạo ra khối u, tạo ra nhức nhối, trong cơ thể trong tâm hồn của kẻ đấu tranh. Có kẻ đấu tranh nào mà trong lòng thư thả. Đó là hậu quả rõ ràng nhất của đấu tranh và bạo lực.

Nhưng đó là lịch sử, đó là điểm thứ hai của thời Khải huyền, cuộc sống là hành trình giải quyết mâu thuẫn, phương tiện là đấu tranh.

Tần số dao động rớt xuống. Sự sống không còn liên tục, không còn tự nhiên. Sự sống là đứt đoạn, là rời rạc. Mâu thuẫn giữa hai cái đối lập là hình ảnh đặc trưng của cuộc sống. Cuộc sống là hành trình giải quyết các mối mâu thuẫn. Giải quyết các mối mâu thuẫn vì mục đích phục vụ sự sung sướng vật chất. Duy nhất là vậy. Con người nhầm, tưởng đó là hạnh phúc. Không phải vậy, không phải là hạnh phúc.

Sung sướng là tầng thấp nhất của tâm thức con người. Sung sướng thoả mãn cái tôi. Được ăn ngon, sung sướng. Thoả mãn tính dục, sung sướng. Kiếm được nhiều tiền, sung sướng. Được sống trong không gian đầy đủ, tiện ích, thơm tho, ấm áp,... đó cũng là sung sướng. Danh tiếng của mình được nhiều người biết, sung sướng. Ý tưởng của mình được mọi người tung hô, sung sướng. Chủ nghĩa của mình được nhiều người ủng hộ, OK, sung sướng. Tôn giáo của mình được nhiều người tuân theo, tuân theo như những con cừu với niềm tin về đồng cỏ; quá OK, sung sướng.

Tất cả những cái đó đều từ bên ngoài, đến từ bên ngoài.

Vì nó đến từ ngoài, vì nó phục vụ mục tiêu cụ thể. Vậy thì mất đi sự liên tục; vậy thì nó đứt đoạn. Con người lịch sử chẻ nhỏ Sự sống ra thành các mặt, các ngành của cuộc sống. Ngành phục vụ thú vui ăn uống. Ngành phục vụ thú vui xác thịt. Ngành phục vụ thú vui thưởng lãm tinh thần. Ngành phục vụ niềm ao ước kéo dài tuổi thọ... Tất cả mỗi ngành là một chuyên môn riêng biệt, tách rời nhau, không còn một sự tương đồng nào cả.

Khoa học là khoa học, có kỹ thuật, có công nghệ, có kinh tế; những cái đó có trong khoa học; vì khoa học phục vụ cuộc sống, phục vụ con người. Khoa học là như vậy, và nó đã chỉ là như vậy. Chưa bao giờ nó giao hoà cùng nghệ thuật. Những kiến thức về âm thanh, những kiến thức về ánh sáng, những kiến thức về sóng, người ta nghĩ rằng nó phục vụ nghệ thuật. Đúng, nó đã phục vụ nghệ thuật; nhưng không phải là giao hoà. Nó không thể cùng âm nhạc tạo ra sự phục sinh của âm thanh. Nó không thể cùng thơ ca tạo ra những chấn động của cảm xúc, bởi ngôn từ. Nó không thể cùng hội hoạ tao ra những suy tư của tâm tưởng, từ màu sắc và bố cục. Nó khô cứng và nó đơn côi. Cũng vậy, khoa học đã không giao hoà cùng tôn giáo.

Vì tôn giáo dựa trên việc tìm kiếm vào cái chết; hiểu cái chết là hiểu tất cả. Kinh nghiệm cái chết là kinh nghiệm tất cả, bởi vì trong kinh nghiệm về cái chết, con người không chỉ kinh nghiệm cuộc sống ở chỗ cao nhất của nó, tình yêu ở chỗ sâu nhất của nó. Trong việc kinh nghiệm cái chết con người đi vào trong điều thiêng liêng. Cái chết là cánh cửa đi tới điều thiêng liêng. Cái chết là tên của cánh cửa của ngôi đền của Thượng đế, là cánh cửa tới Niết bàn. Khoa học không là như vậy; nó không biết đến những điều như vậy; nó không sống với những điều như vậy.

Cũng vậy nghệ thuật vì Tình yêu. Nghệ thuật làm bùng nổ thế giới của tình yêu. Tình yêu là khoảng giữa của Sống và Chết. Tình yêu chứa cuộc sống. Tình yêu bí ẩn hơn cuộc sống. Nghệ thuật là khoảng giữa, giữa của Sống và Chết, giữa của Hôm nay và Ngay mai. Vì trong Tình yêu đã có cả chết. Con người còn chưa sẵn sàng chết, người đó không thể biết yêu được; mặc dầu bằng việc chết người đó trở nên sống động hơn. Chính là qua cái chết mà tình yêu phục sinh bản thân nó, và lặp đi lặp lại. Chính là bằng việc biến mất mà nó xuất hiện đi xuất hiện lại. Nghệ thuật tham gia vào quá trình đó. Khoa học không là như vậy; nó nghèo nàn hơn rất nhiều.

Khoa học, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế và xã hội đã không giao hoà, cũng không tương đồng cùng nghệ thuật, cùng tôn giáo. Thế giới đã là tổng thể rời rạc.

Thám hiểm mặt trăng, thám hiểm sao hoả, nhưng con người càng khổ hơn, càng lệ thuộc và vật chất hơn. Họ phát minh ra những dạng năng lượng cao, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng nguyên tử, để phục vụ đời sống; nhưng rồi cũng là công cụ để họ doạ nhau trong tranh dành. Tất cả nó có làm cho cuộc sống sướng hơn, tiện ích hơn; nhưng nó là rời rạc và đứt đoạn; nó không nối kết tạo nên Sự sống liên tục; nó không tạo nên một Sự sống tổng thể hài hoà.

Môn khoa học mang tính nhân văn hơn cả, Tâm lý học; đã tập trung được nhiều bộ óc trí tuệ và tâm hồn cởi mở. Nhưng, nó vẫn chưa thể bước qua cái giới hạn của hôm nay và ngày mai, nó vẫn chưa thể bước qua cái giới hạn của bên ngoài và bên trong. Tâm lý học giúp đỡ con người trên nền tảng giúp con người khẳng định bản thân mình là gì. Tâm lý học đã nghĩ rằng có những con người, đã bị mất cân bằng, với trạng thái của họ. Tâm lý học muốn điều chỉnh sự mất cân bằng đó, đưa con người đó về với trạng thái của họ. Họ là đàn ông hay đàn bà; họ là bác sỹ hay nông dân; họ là chính trị gia hay là một thằng ăn cắp; họ là một nghị sỹ hay là một kẻ dối trá,... Tâm lý học giúp cho con người tìm lại cân bằng với cái mà con người tưởng là nó; cái vỏ bọc của con người. Tâm lý học giúp con người khẳng định mình là ai, một cái Tôi được định nghĩa, với ngôn từ của thời đại. Tâm lý học chỉ là vậy và tương đương.

Vậy thì, thực sự Tâm lý học đi ngược chiều với tìm kiếm. Nó đi tìm ánh sáng bằng cách đuổi bóng tối. Nó đã bỏ lỡ, bỏ lỡ các chiều khác của sự sống. Nó cứ tưởng nó đã là toàn bộ, nhưng không phải. Nó tự đứt đoạn và rời rạc mình với ngày mai, với cái bên trong.

Các mặt của Sự sống đều phân chia, tách biệt; vì tất cả đều đi khẳng định cái tôi. Mỗi mặt của cuộc sống là khác nhau, tách biệt và đứt đoạn; không liên hệ, không tương đồng, không bù cho nhau, không hỗ trợ nhau. Đó là đặc điểm thứ ba của thời Khải huyền.

Đó cũng chính là những khác biệt căn bản giữa thời Khải huyền và thời Hoàng kim. Ngược với tất cả những gì của thời Khải huyền, đã là thời của Hoàng kim. Với thời Hoàng kim con người là bộ mặt của sự sống; không phải sự sống là bộ mặt của con người. Các mâu thuẫn trong hiện hữu đơn giản là không có, đó là sự khác biệt. Đặc điểm của hiện hữu không nằm trong các mâu thuẫn mà nằm trong sự khác biệt. Công thức của sự khác biệt: là sự vô tận của những tương đồng và khác nhau của thực tại. Cái mà thời Khải huyền đã bị lỡ.

3

Tần số rớt xuống, ba trung tâm năng lượng bó lại, khô cứng; các luân xa chậm lại và đóng dần; con người phủ lên mình những lớp chăn vô minh. Linh hồn bị bịt kín trong các lớp vỏ; giống như các lớp vỏ của củ hành, rất nhiều lớp bao quanh, bao quanh nhân của nó. Con người bị nhầm lẫn, nhẫn lẫn tưởng các lớp vỏ bọc đó là bản thể của mình. Con người lầm lẫn, đồng hoá bản thể mình vào các lớp vỏ đó.

Con người lầm lẫn bản thể mình với vật chất, với của cải. Lầm lỡ đánh giá sự thành đạt và phẩm giá của con người, qua số lượng vật chất và của cải mà người đó đạt được. Người không có nhà cửa, không có số dư ngân hàng, không có xe hơi là những người không thành đạt, là những người thấp kém! Người có nhà cao, cửa rộng, có ngôi nhà thứ hai ven biển, có ngội nhà thứ nhất trong khu biệt thự có cổng gác, có số dư tại ngân hàng với con số hơn mười lăm hai chục chữ số; người đó ngạo nghễ nhìn đời, ngạo nghễ cười, cười không nhìn thấy ai. Tiền bạc, của cải, xe hơi, nhà cửa luôn là ước vọng không ngừng của con người lịch sử. Tiền bạc, của cải, xe hơi, nhà cửa đã là thước đo sự thành công của một đời người. Danh vọng, quyền lực cũng là thứ như vậy. Danh vọng, quyền lực cũng là để phục vụ cái tôi, giúp cái tôi khảng định. Danh vọng, quyền lực cũng giống như của cải, cái ở bên ngoài, con người đã lầm lẫn đồng nhất bản thể mình vào với nó.

Cùng với tiền bạc, của cải, danh vọng, quyền lực, những cái ở bên ngoài; con người còn nhầm lẫn bản thể của mình với cả dáng vẻ bên ngoài. Một mẫu hình người đàn ông thành đạt còn có cả dáng vẻ cao lớn, khoẻ khắn, điển trai, ăn nói lưu loát. Một mẫu hình cô gái may mắn còn có cả dáng vẻ kiêu sa, chân dài, da trắng, má hồng, mắt to, hoặc một cái gì đó tượng tự. Không sai, dáng vẻ làm con người tự tin hơn. Dáng vẻ làm con người phần nào dễ thành công. Nhưng dáng vẻ không thể là tất cả. Dáng vẻ không thể tạo nên sự bình an và phong phú của tâm hồn. Cùng với sự thành công về tiền bạc, của cải, danh vọng, quyền lực; dáng vẻ không tạo nên sự trưởng thành về nhân cách và tâm thức.


Suy nghĩ và cảm xúc cũng vậy; cũng là những lớp vỏ, không phải nhân. Suy nghĩ và cảm xúc không tạo nên sự trưởng thành về tâm thức. Suy nghĩ và cảm xúc hai cái to lớn nhất, che khuất bản thể bên trong của con người. Suy nghĩ và cảm xúc là hình ảnh của tâm trí, là hai chiều của tâm trí.

Suy nghĩ, tư duy là đặc tính của con người; đưa con người vượt qua Thể con vật, đặt con người vào Thể Con người, hay còn gọi là Thể tâm trí. Nhưng một cách chắc chắn rằng: đến 90 phần trăm suy nghĩ của con người là lặp lại và vô dụng; đến 90 phần trăm suy nghĩ của con người là vận hành sai và thường có bản chất tiêu cực. Bởi vì suy nghĩ luôn là phân chia, phân biệt, so sánh. Và rồi những định kiến của xã hội, những thói quen đạo đức, luật lệ,… làm biến dạng các nhận biết; là nguồn gốc để suy nghĩ vận hành sai. Hãy quan sát tâm trí mình và sẽ thấy điều này là đúng. Nó miên man, nó thường quyên đi cái là bản chất. Nó gây ra sự rò rỉ sinh lực nghiêm trọng, nó làm tiêu hao năng lượng. Và khi thiền định sâu, con người sẽ thấy lăng kính này của suy nghĩ và tư duy.

Chiều thứ hai của tâm trí là cảm xúc. Cảm xúc nảy sinh ở chỗ tâm trí và thân thể gặp nhau. Nó chính là phản ứng của thân thể với tâm trí. Nó là sự phản xạ của tâm trí lên thân thể. Một người bạo hành, tâm trí bị xúc phạm, luôn nảy sinh ý nghĩ thù địch, ý nghĩ tấn công; khi đó năng lượng sẵn nó tạo ra sự giận dữ. Thân thể sẵn sàng đánh nhau. Hoặc một người khác, có ý nghĩ rằng đang bị đe doạ, về mặt vật lí hay tâm lí, làm cho thân thể co lại. Các nhà khoa học gọi đây là phản ứng vật lí của nỗi sợ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những xúc động mạnh thậm chí còn gây ra những biến đổi về sinh hoá trong thân thể. Cái khó khăn lớn nhất của con người, của nhân loại là luôn có một vòng luẩn quẩn giữa suy nghĩ và cảm xúc. Chúng nuôi dưỡng và khuyếch đại nhau. Một ý nghĩ tạo ra phản xạ khuếch đại về bản thân nó dưới dạng xúc động, và tần số rung động của xúc động lại giữ việc nuôi dưỡng cho ý nghĩ nguyên thuỷ. Tình huống, hay biến cố, hay người khác là nguyên nhân được cảm nhận của xúc động; ý nghĩ tiếp thêm năng lượng cho xúc động; rồi đến lượt nó, xúc động lại tạo năng lượng cho ý nghĩ. Và cứ thế mãi. Con người khổ đau, nhân loại khổ đau vì không thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn này.

Tâm trí, suy nghĩ và cảm xúc đánh lừa con người; nó đánh tráo khái niệm. Nó là cho con người lầm lẫn đồng hoá bản thể mình vào nó. Nhưng thực sự, tội lỗi không phải mình nó. Tội lỗi còn phải kể đến hệ thống niềm tin. Hệ thống niềm tin làm méo mó, dẫn dắt suy nghĩ và cảm xúc.

Xã hội, tôn giáo, các triều đại, các chính phủ, các tổ chức chính trị, tư tưởng trong văn hoá, tri thức trong trường học, ứng xử trong gia đình,... tất cả, tất cả mọi thứ đều được chia là hai mặt. Hai mặt đúng và sai, hai mặt tiêu cực và tích cực, hai mặt đẹp và xấu. Vậy thì, một cách đương nhiên: những cái đúng, những cái tích cực, những cái đẹp; là thuộc về, là phục vụ, là chuẩn mực của những cái gì là đầu não của xã hội, của triều đại, của chính phủ, của tổ chức tôn giáo... Những cái sai, những cái tiêu cực, những cái xấu là thuộc về phía đối lập. Nó ảnh hưởng tới quyền lợi của đầu não của xã hội, của triều đại, của chính phủ, của tổ chức tôn giáo. Nên nó là sai. Con người, từng con người phải đi về phía cái được coi là đúng, là tích cực, là đẹp; phải rời xa phía cái được coi là sai, là tiêu cực, là xấu. Lẽ của thế giới này là vậy. Lẽ của thế gian hai mặt đối lập là vậy. Nó tạo nên niềm tin, niềm tin của con người lịch sử. Con người không được phép ung dung, không được phép tự do. Niềm tin lôi kéo, thúc đẩy, dụ dỗ, bắt buộc, đe doạ, khủng bố con người, buộc con người phải lệ thuộc vào nó. Con người còn dùng một từ ngữ cao ngạo hơn để trói buộc cuộc sống vào những giáo điều này; đó là đạo đức, là luân lý, là luật pháp, là giáo lý, có rất nhiều những từ ngữ kiểu như vậy. Nó phục vụ những cái là đầu não của xã hội, của triều đại, của chính phủ, của tổ chức tôn giáo. Nó không phục vụ con người; nó không làm con người trưởng thành về tâm thức. Nó không trong sạch, trinh nguyên, thuần khiết như nó tưởng là; cái duy nhất vượt lên nó, cái mà nó không thể có là Tình yêu. Tất cả những cái đó, là đạo đức, là luân lý, là luật pháp, là giáo lý; nó luôn thiếu Tình yêu ở bên trong mình. Dù nó luôn giao giảng rằng con người cần phải thương yêu nhau. Nhưng Tình yêu với bản thân của con người, nó lại bỏ lỡ. Khi biết yêu bản thể của mình, con người mới biết Tình yêu.

Và ngay cả Tình yêu, cái cao hơn tất cả mọi thứ. Cái mà thánh Aurieliu Augustine đã nói: nếu đã yêu thì không có gì là sai; cũng chưa phải là bản thể, chỉ là cái nối kết giữa các bản thể.

Lầm lẫn bản thể của mình với các lớp vỏ. Con người lịch sử nhìn cái thấy cái ảo ảnh, cái giả hữu thành hiện hữu. Con người lịch sử đã biến Sự sống mở, liên tục và tương đồng thành cuộc sống đứt đoạn rời rạc và tăm tối.

4


Có một quãng thời gian đặc biệt. Đó là khoảng thời gian từ sáu trăm, tới bốn trăm năm trước Công nguyên. Đây là quãng thời gian đặc biệt. Trước đó lịch sử của nhân loại là liên tục, Sự sống của con người là Sự sống mở và tương đồng. Quãng thời gian đặc biệt như một sự chuyển đổi, không phải bước nhảy, một sự tụt xuống. Trước đó, nhìn rất rõ; sau đó, phải tìm kiếm. Như một khớp khửu, nó chuyển đổi từ sự liên tục sang sự rời rạc và phân mảnh. Sau đó đời sống trở thành tăm tối, đứt đoạn.

Quãng thời gian đặc biệt đó, được đánh dấu bằng sự xuất hiện đồng loạt các bậc thày trí huệ, tại khắp nơi trên trái đất. Sau sự xuất hiện của các bậc thày trí huệ và sự thiết lập mới những con đường tìm kiếm khác nhau.

India có Gautama Buddha, có Mahavira; sau Gautama là Buddhism với tín đồ lên tới hàng trăm triệu hàng tỷ người; sau Mahavira là Jainism đã từng là một tôn giáo lớn ở India với giáo lý khổ hạnh và tư tưởng bất hại. China có Lao Tzu; sau Lao Tzu là Taoism, ngày nay có mặt tại China, Korea, Japan, Vietnam, Singapore,... Nhiều nơi khác nữa, rất nhiều các bậc trí huệ xuất hiện. Ở Iran có Zarathustra, ở Anatolia có Heracleitos, ở Egypt có Toth, ở Greece có Thales, có Pythagoras, có Socrates,... Thales, Pythagoras, Socrates,... những con người này, họ không chỉ là triết gia, nhà toán học, nhà thơ,... hơn hết họ là những nhà huyền học. Họ dạy cả công truyền và họ dạy cả mật truyền. Họ dạy về những con số, những đường thẳng song song, về tam giác... Và họ cũng dạy cả về những lời khải truyền, những tầng của giáo lý thâm sâu. Rất nhiều bậc trí huệ, xuất hiện vào thời điểm đó. Muộn mằn hơn, bốn năm trăm năm sau, là sự xuất hiện của Jesus Christ.

Dù là tình yêu, từ bi; dù là trách nhiệm; các bậc thày trí huệ đã đồng loạt xuất hiện. Sự xuất hiện của họ dường như để chuẩn bị cho con người bước vào thời Song ngư; thời mà con người phải nhọc nhằn hơn, nếu muốn đi về phía Ánh sáng. Sự xuất hiện của họ, dường như để báo hiệu rằng, những giáo lý nguyên thuỷ, thuần khiết, trinh nguyên và truyền thống không còn hợp với con người lịch sử. Thượng đế, linh hồn những khái niệm siêu hình không thể hấp dẫn con người lịch sử được nữa. Một cái gì đó cụ thể hơn, một cái gì đó mạnh mẽ hơn, để đánh vào lòng tham của con người; phải chăng con người đang cần hơn, một thứ như vậy. Con người mà các luân xa đã bị đóng lại, đang khoác lên mình những tấm vỏ bọc giả tạo; người mà chìm đắm trong vật chất; những con người đó cần thiết phải có những con đường thích hợp, gần gũi hơn với họ. Chân lý thì không thể kéo xuống, nhưng mở tầm nhìn của con người lịch sử hướng về phía Chân lý, là điều có thể.

Gautama Buddha, ngài đã xuất hiện. Xuất hiện và im lặng trước nhiều câu hỏi. Ngài im lặng trước các câu hỏi về Linh hồn, về Thượng đế, về sự Vô cùng của Vũ trụ,... Ngài không trả lời rằng có, hoặc không. Ngài không trả lời rằng đúng hay sai. Ngài không trả lời, ngài im lặng. Im lặng và ngài nói rằng: Vô ngã; ngài nói rằng: Tính không; ngài nói rằng: Luân hồi và Niết bàn.

Ngài đã nói vậy. Phải chăng, với con người lịch sử, khi đã chìm đắm trong thế giới vật chất; khi lòng tham trở thành cái phổ biến; khi bị nhầm lẫn đánh đồng bản thể của con người vào vật chất, vào cơ thể, vào suy nghĩ, vào cảm xúc và vào những luân lý đạo đức xã hội; vậy thì việc cần thiết là phải phá bỏ những cái vỏ bọc này. Đó là điều cần nhất. Vậy thì Linh hồn, vậy thì Thượng đế phỏng có ích gì? Hay lại biến thành cái nơi, để lòng tham neo vào níu bám. Linh hồn và Thượng đế lại trở thành những tomtem để cầu xin khi thiếu thốn; cầu xin cả khi không thiếu thốn, vì con người luôn mong được nhiều hơn. Rồi cả khi, con người tưởng rằng, mình không tham, mình không ác, vậy thì người ta lại đòi được thưởng. Phải thưởng công lao đức hạnh của người ta. Con người lịch sử thực sự đã và đang là như vậy.

Nên ngài đã nói, tất cả là Vô ngã, tất cả là Tính không. Con người anh cũng là không. Con người tôi cũng là không. Thượng đế cũng là không. Không có gì để níu bám khi sống. Không có gì để níu bám khi chết. Tất cả là không. Và cuộc đời là khổ. Nghiệp, nhân quả sẽ là quy luật chi phối đời sống; chi phối khi sống, chi phối khi chết; chi phối qua nhiều kiếp sống. Cần phải giải thoát khỏi Luân hồi; đó chính là Niết bàn. Đơn giản, ngài nói điều đơn giản; để phù hợp với con người lịch sử; để phù hợp với con người mà các luân xa đã đóng và khoác trên mình nhiều lớp vỏ giả tạo.

Cũng vậy, Lao Tzu xuất hiện. Xuất hiện để nói với con người lịch sử, rằng: xấu và đẹp, đúng và sai, tiêu cực và tích cực nó không phải là mâu thuẫn của hai mặt đối lập. Chúng cùng sinh ra, cùng lớn lên, cùng tồn tại; liên thuộc với nhau; hai mặt đối lập bù cho nhau; hai mặt đối lập tạo nên sự hài hoà. Cuộc sống và thực tại không thể có chỉ có tốt, chỉ có thiện,... Cuộc sống và thực tại không chỉ có những đỉnh núi; có cả những thung lũng. Đỉnh núi lộng gió và ngập tràn ánh nắng; thung lũng tĩnh lặng và âm u. Thung lũng làm cho đỉnh núi cao hơn, hùng vĩ hơn. Đỉnh núi là cho thung lũng sâu thẳm hơn, huyền bí hơn. Hai cái đối lập tạo nên sự giàu có, phong phú, sinh động. Nhưng không chỉ có đỉnh núi và thung lũng; cuộc sống là nhiều chiều, còn có cao nguyên, còn có đồng bằng, còn có những dòng sông,... Và có đỉnh núi cùng thung lũng, vạn vật và cảnh sắc lung linh hơn. Thung lũng và đỉnh núi làm cho bình nguyên phóng khoáng và bạt ngàn hơn. Thung lũng và đỉnh núi làm cho đồng bằng bình yên và giàu có hơn. Những dòng sông, những bình nguyên, những đồng bằng,... cũng làm cho đỉnh núi và thung lũng sống động hơn. Đó chính là tính liên thuộc tương hỗ nhiều chiều của cuộc sống.

Đừng có nỗ lực đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập, đừng có nghĩ hạnh phúc là đấu tranh, đừng có nâng lên thành tư tưởng: mâu thuẫn giai cấp là mâu thuẫn đối kháng, cũng đừng có đấu tranh bằng bạo lực cách mạng cái gọi là mâu thuẫn giai cấp đối kháng giữa con người với con người... Xin đừng như vậy. Lao Tzu xuất hiện, để nói như vậy, và bảo rằng: khiếp, đừng dùng từ ngữ dài dòng thế, đừng phức tạp như vậy. Hãy Vô vi đi. Hãy như dòng nước chảy, chảy qua tất cả, hoà đồng tất cả; dù là đồng bằng, chảy qua; dù là thác ghềnh, chảy qua; dù là vực sâu, chảy qua; dù là ngày, dù là đêm, chảy qua; tất cả chảy qua để về với biển lớn.

Jesus Christ, xuất hiện để nói với người Israel và tất cả rằng: hiện hữu không chỉ một Thiên Chúa duy nhất. Với con người lịch sử, khi hiện hữu chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, tuyệt đối siêu việt, ở trên tất cả; không còn bất cứ một thần linh nào nữa; vậy thì, vậy thì tất cả chỉ còn ...vật chất. Ngài đã xuất hiện, xuất hiện để nói về ba ngôi Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và còn có cả Đức Mẹ. Nhưng đó không phải là lý do chính. Lý do chính ngài xuất hiện, là ngài mang Tình yêu đến cho con người. Ngài xuất hiện cùng Tinh yêu không giới hạn, cùng sực chia sẻ không bờ bến. Với Tình yêu vĩ đại, ngài hầu mong con người thức tỉnh. Ngài muốn cảm hoá con người lịch sử, còn người chìm sâu trong vật chất, bằng Tình yêu vĩ đại của mình.

Dù là tình yêu từ bi, dù là trách nhiệm, những bậc thầy đó đã chỉ ra những con đường; những con đường phù hợp với Thời Pisces, phù hợp với con người lịch sử. Các bậc thầy, họ đã tạo ra các hình dáng khác nhau, bên ngoài một cốt lõi duy nhất. Những con đường khác nhau; nhưng là phù hợp với từng khu vực, từng quốc gia, từng dân tộc, từng nền văn hoá khác nhau. Tất cả các con đường đều đưa con người về với Thượng đế, về với Niết bàn, về với Linh hồn tối thượng.

5

Dường như là thời Pisces đang qua. Dường như thời Aquarius đang tới.

Nhiều người nói, đang ở thời điểm chuyển thời, họ viện dẫn nhiều lý do biến đổi đặc biệt của tự nhiên, để chứng minh rằng, thời Aquarius đã tới. Họ dẫn chứng nào sóng thần, nào thiên thạch, nào động đất, nào núi lửa; những biến cố: như sự chết chóc rất nhiều một cách ngẫu nhiên của thú trong rừng, chim trên trời, và dưới biển; các đại dịch: N5N1, SARS, dịch sốt bởi các virut Marburg và Ebola... Nhiều, nhiều lắm những biến cố.

Nhưng tôi thấy rằng, Hamvas Béla, đã chỉ ra một biến cố mạnh mẽ nhất, thuyết phục nhất, nhưng rất buồn. Ông đã viết thế này:

"Đây là thời kỳ, cách đây năm mươi năm Le Bon đã từng nói, những hoạt động vô thức của đám đông thay thế cho những hoạt động có ý thức của cá nhân.

Sự thay thế này lúc đó không chỉ có vẻ vô hại mà còn được mong đợi. Một số người đã kích động đám đông bạo động. Marx và các tông đồ của chủ nghĩa xã hội, thay vì chỉ từ xa chiêm ngưỡng những lý tưởng của mình, họ đã chuẩn bị cho một cuộc nổi loạn.

... Nếu ngày hôm nay Marx, Engels, Lassalle hoặc bất kỳ ai trong đám cách mạng đó tỉnh dậy, nhìn xem cái gì đã xảy ra, đã thức tỉnh đám đông hào hứng thế nào, chắc chắn những người này sẽ đắm chìm vào suy tư. Tôi quả thật không nghĩ nó sẽ như thế này, kẻ tội nghiệp sẽ lắp bắp khi tự kết án mình.

Đám tông đồ đều đã từng tin tưởng, thiên thần sẽ thức tỉnh từ đám đông. Ngày nay giá họ nhìn thấy, không hề như vậy. Quái vật đã thức tỉnh thì đúng hơn.

Thay thế hoạt động có ý thức của cá nhân là những hoạt động vô thức của đám đông. Các tông đồ sẽ tận mắt nhìn thấy, xã hội phụ thuộc vào cái khác.

Đám đông thống trị là những hoạt động hỗn loạn, mù quáng, mờ mịt, vô thức thay thế những hoạt động sáng sủa, có tri thức, có ý thức của cá nhân; dìm loài người xuống sự tăm tối. Đấy chính là điều những người cách mạng không nghĩ tới.

Nhưng nhiều người khác đã nhìn thấu suốt bản chất thống trị của đám đông. Họ hiểu, đây không phải vấn đề thống trị. Tình thế của thế giới đã thay đổi.

Quá trình này không phải là một quá trình xã hội mà còn sâu sắc hơn: một quá trình cơ bản của đời sống. Trên bề mặt xã hội, đám đông nổi trội lên; sự vô thức cũng trồi lên như một sự tất yếu.

Tư duy và hoạt động tỉnh táo của cá nhân bắt đầu phụ thuộc vào sự vô thức và hỗn loạn của đám đông. Thứ giản dị có nội dung phụ thuộc vào thứ mù quáng và hỗn loạn. Thứ phát triển cao phụ thuộc vào thứ thấp kém. Vị trí lộn ngược tấn công, con người bắt đầu sống bằng cái đầu lộn xuống dưới. Và những hậu quả của nó không thể lường trước.

Thế hệ cách mạng thứ hai, Pareto và Sorel đã nhận ra, thực chất không phải vấn đề tình huynh đệ, vấn đề tự do của đám đông và bản khải hoàn ca của các lý tưởng nhân loại lớn. Họ thôi không lập luận một cách ấu trĩ các khái niệm của mình nữa.

Cuộc đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản là một hiện tượng xã hội bề mặt, vì thực chất đây là cuộc đấu tranh giữa ý thức tỉnh táo và sự vô thức mù quáng.

Pareto chua chát tuyên bố, tư tưởng nào càng ít giá trị sự thật, đám đông càng bám chặt vào đó. Ông gọi sự mờ mịt và phân vân này là một thứ cặn bã (reziduum). Thứ cặn bã vô nghiã, đầy bản năng, không hợp lý, vô tích sự. Đấy chính là đặc trưng tư duy của đám đông. Đặc biệt không liên quan đến tư tưởng...

Thế hệ thứ hai đã nhận ra đặc thù của hoạt động vô thức của đám đông là sùng bái thần tượng và reziduum. Thế hệ này nhận ra cuộc đấu tranh giữa duy trí và vô thức bắt đầu và sẽ tiếp tục. Tại sao họ không nhận ra những cái khác nữa, bởi khả năng của họ chỉ ở mức độ trung bình thông thường.

Nhưng rốt cuộc, xuất hiện những kẻ ngay từ phút ban đầu hiểu ra ngay tình thế. Trước hết là Kierkegaard và Nietzche. Sau đó là cả một đạo quân nhỏ, không xếp theo thứ tự và chưa đầy đủ: Feguet, Merezskovskij, Pannwitz, Evola, Bergyajev, Valéry, Ortega, Jaspers.

Điều họ nhìn thấy: đám đông từ trước tới nay ở dưới đáy bắt đầu xông lên những tầng lớp xã hội cao hơn. Đi cùng với nó là sự tàn bạo, không như trước, trong thời kỳ di dân, tấn công vào kẻ ở tầng lớp phát triển cao từ xa, từ bên ngoài, mà giờ đây từ dưới lên và từ trong ra.

Trong con người vô thức nổi lên; trong xã hội, đám đông xuất hiện. Đây là một dạng di dân mới, là sự đột nhập thẳng thừng của sự tàn bạo. Tình thế không chỉ thay đổi từ bên ngoài; mà trạng thái tâm lý con người cũng bị đảo lộn cùng sự xua đuổi những cá nhân ưu tú và có vị thế cao hơn.

Những gì đã từng ở trên, rơi xuống dưới, những gì từng ở dưới giờ nổi lên trên. Vô thức lên trên và ý thức xuống dưới. Tri thức không ở trên, mà là bản năng; không phải ánh sáng, mà là sự tăm tối; không phải paradiso, mà là inferno; không phải thứ phát triển mà là thứ thấp kém; không phải trật tự và sự tử tế, mà là sự hỗn loạn và dục vọng. Không phải thứ tư duy có ý thức, mà là một thứ cặn bã (reziduum) và thần tượng (mitosz). Bởi vậy trong sự chọn lựa, trong cách đánh giá các giá trị, trong thứ bậc và trong nhu cầu xuất hiện một trật tự đảo lộn.

Một tai họa giống như thế này chỉ xảy ra với con người khi nạn hồng thủy tràn ngập quả đất, và loài người chìm xuống biển. Nhưng lúc đó sự chết chìm này chỉ là bên ngoài, như nạn di dân cũng chỉ là bên ngoài; ngày nay con người chết chìm trong sự vô thức riêng của bản thân mình và của đám đông riêng của xã hội mình. Biển chính là sự vô thức, và sự vô thức chính là biển. Nạn hồng thủy chính là sự chết chìm trong cái vô thức. Ngày hôm nay chúng ta đang sống trong nạn hồng thủy từ bên trong."

Có lẽ thời của Aquarius - Bảo bình đã tới?


Thái độ vô thức trong thế kỷ hai mươi đã làm gần trăm triệu người chết trong các cuộc chiến tranh, đã làm gần trăm triệu người chết khác nữa không phải vì chiến tranh mà vì đói và thanh trừng nội bộ. Nạn hồng thuỷ bên trong và nạn hồng thuỷ bên ngoài; mong rằng nó đang qua đi.

Xin cúi đầu trước Thượng đế, xin cúi đầu trước các Budhha, xin cúi đầu trước các Christ, xin cúi đầu trước các Bodhisattva; biết ơn và cầu nguyện cho tất cả mọi con người an bình và phúc lạc.
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả những Tác giả và Dịch giả của các bài viết, bài nói mà chúng tôi đã sử dụng để làm tư liệu và cảm xúc để viết bài này; xin chân thành hồi hướng công đức nhỏ bé của mình tới Quý vị.

(Tổng hợp của một người bạn)
__________________
Chỉ khi nào anh chị em biết thương linh hồn mình thì anh chị em mới có thể thương mọi người được (thầy Đáng)

- Không tốt - xấu, đúng - sai
- Không bận tâm lo lắng
- Không hơn thua tranh chấp
- Không đề cao cá nhân
- Không đố kỵ hiềm khích
- Không ích kỷ hẹp hòi

thay đổi nội dung bởi: Luciola, 14-02-2014 lúc 9:48 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến Luciola vì bài post hữu ích này:
haidong (15-02-2014), thien thu 2 (15-02-2014)
Old 15-02-2014, 5:40 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
gởi Luciola,

1. Cảm ơn tài liệu trên tuy hơi...dài nhưng rảnh đọc cũng mua vui được 1 vài trống canh!
2....Nhưng, ngành "tử vi kiểu thiên văn học" nầy không giúp gì nhiều cho việc lập lại chương trình cho tiềm thức của bộ não vốn nhỏ bé của mỗi người, nhất là thời gian còn lại của kiếp nhân sinh ngắn ngủi !!!!
3. Thiên thu tôi vẫn... dị ứng với "hệ thống niềm tin" từ các đầu óc vĩ đại nầy: thôi thì ta cũng chia sẻ với nhau những tư duy "lớn" những ngày đầu Xuân..."hâu Valentine" nầy cho đở cơn ghiền đọc ! Giá mà nghe những chia sẻ về những chuyến đi "ta bà"... còn thích hơn nhiều !

Thiên thu
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-02-2014, 8:35 am  
Luciola
Senior Member
 
Luciola's Avatar
 

Default
Dạ thưa tiền bối thiên thu!

Quả thật là bài tổng hợp dài thật, nhưng cung cấp nhiều thông tin thú vị, và cũng cho thấy một khả năng bao quát có tính hàn lâm của người tổng hợp. Luciola mạn phép có ý kiến riêng như sau:

1. Dù bài không đưa ra được phương pháp, kỹ thuật để giúp con người trở về giống người mở thời cổ xưa, với trí tuệ vô tận vô biên, thời trời-người-đất giao hòa là Một, nhưng bài cho thấy được một chiều dài lịch sử nhất định của loài người qua các thời kỳ khác nhau. Ít nhất người tổng hợp cũng là người có một độ mở nhất định mới có cái nhìn bao quát và sự tổng hợp bao quát. Vậy nên, độ mở của một người có thể do tự nhiên hoặc do luyện tập. Nếu đã có sẵn độ mở tự nhiên nào đó mà còn có thêm phương pháp kỹ thuật để thúc đẩy độ mở ấy thì con người ấy lại càng mở.

2. Các học thuyết, hệ thống niềm tin đã và đang và sẽ tiếp tục xuất hiện đều là với mục đích giúp loài người xóa bỏ được lớp màng vô minh, thoát ra được lớp từ lực đang che phủ tâm trí loài người. Tuy vậy, các học thuyết, hệ thống ấy cũng đồng thời gây nên hiệu ứng phụ là góp phần làm rối rắm con đường và gây nên những cuộc chiến tâm thức đủ kiểu bởi kiểu gì thì con người cũng vẫn còn đang ở mức thầy bói mù sờ voi.

3. Nói về phương pháp, kỹ thuật, nếu hành giả vừa có được tự lực vừa có sự hỗ trợ của tha lực thì sự mở sẽ rất nhanh. Từ bài tổng hợp này, chúng ta thấy rằng trái đất khi ở trong tác động của những chòm sao sẽ chịu những từ lực khác nhau và từ lực này có tác động đến tâm thức, đến độ ở của con người. Ở thời Song Ngư, trái đất đã chịu tác động của một trường từ lực thúc đẩy sự phát triển của vật chất và khoa học kỹ thuật, khiến cho loài người bị cuốn hút vào một ma trận tâm thức điên cuồng. Để trở về lại Thời Hoàng Kim, thời kỳ con người hoàn toàn mở (như người cổ xưa dù không hề có bất kỳ phương tiện KHKT tiến bộ nào, nhưng với cơ thể mở hòa nhập hoàn toàn với vũ trụ, người cổ xưa đã có thể nhìn tổng thể vũ trụ với 12 chòm sao mà nếu chờ sự quan sát-tổng hợp-đối chiếu-nghiên cứu của khoa học thì phải mất dễ đến hàng triệu năm, trong khi đó KHKY chỉ mới thực sự phát triển vài trăm năm gần đây; và nếu không có sự cho phép của Cõi Kia, liệu loài người hiện đại có thể có được những ý tưởng, những phát minh khoa học giúp hỗ trợ quan sát vũ trụ cũng như quan sát các đối tượng tinh vi siêu vi bên trong và bên ngoài con người hay không?), con người phải cật lực và rốt ráo luyện tập để xóa tan được lớp từ lực còn dày đặc làm phế đi tâm thức tối thượng và những khả năng huyền năng cao quý của con người. Thiền định (phát triển nội lực) và NLVT (tha lực) giúp thúc đẩy nhanh hành trình trở về của con người, giúp dọn sạch những đống lý thuyết và giúp hòa nhập trở lại vào tâm thức tối thượng ở băng tần zero.

Bạo gan nói dóc thế ạ

Luciola
__________________
Chỉ khi nào anh chị em biết thương linh hồn mình thì anh chị em mới có thể thương mọi người được (thầy Đáng)

- Không tốt - xấu, đúng - sai
- Không bận tâm lo lắng
- Không hơn thua tranh chấp
- Không đề cao cá nhân
- Không đố kỵ hiềm khích
- Không ích kỷ hẹp hòi

thay đổi nội dung bởi: Luciola, 16-02-2014 lúc 8:52 am.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến Luciola vì bài post hữu ích này:
haidong (16-02-2014)
Old 17-02-2014, 5:25 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Trích:
Nguyên văn bởi Luciola View Post
Dạ thưa tiền bối thiên thu!

Quả thật là bài tổng hợp dài thật, nhưng cung cấp nhiều thông tin thú vị, và cũng cho thấy một khả năng bao quát có tính hàn lâm của người tổng hợp. Luciola mạn phép có ý kiến riêng như sau:

1. Dù bài không đưa ra được phương pháp, kỹ thuật để giúp con người trở về giống người mở thời cổ xưa, với trí tuệ vô tận vô biên, thời trời-người-đất giao hòa là Một, nhưng bài cho thấy được một chiều dài lịch sử nhất định của loài người qua các thời kỳ khác nhau. Ít nhất người tổng hợp cũng là người có một độ mở nhất định mới có cái nhìn bao quát và sự tổng hợp bao quát. Vậy nên, độ mở của một người có thể do tự nhiên hoặc do luyện tập. Nếu đã có sẵn độ mở tự nhiên nào đó mà còn có thêm phương pháp kỹ thuật để thúc đẩy độ mở ấy thì con người ấy lại càng mở.

2. Các học thuyết, hệ thống niềm tin đã và đang và sẽ tiếp tục xuất hiện đều là với mục đích giúp loài người xóa bỏ được lớp màng vô minh, thoát ra được lớp từ lực đang che phủ tâm trí loài người. Tuy vậy, các học thuyết, hệ thống ấy cũng đồng thời gây nên hiệu ứng phụ là góp phần làm rối rắm con đường và gây nên những cuộc chiến tâm thức đủ kiểu bởi kiểu gì thì con người cũng vẫn còn đang ở mức thầy bói mù sờ voi.

3. Nói về phương pháp, kỹ thuật, nếu hành giả vừa có được tự lực vừa có sự hỗ trợ của tha lực thì sự mở sẽ rất nhanh. Từ bài tổng hợp này, chúng ta thấy rằng trái đất khi ở trong tác động của những chòm sao sẽ chịu những từ lực khác nhau và từ lực này có tác động đến tâm thức, đến độ ở của con người. Ở thời Song Ngư, trái đất đã chịu tác động của một trường từ lực thúc đẩy sự phát triển của vật chất và khoa học kỹ thuật, khiến cho loài người bị cuốn hút vào một ma trận tâm thức điên cuồng. Để trở về lại Thời Hoàng Kim, thời kỳ con người hoàn toàn mở (như người cổ xưa dù không hề có bất kỳ phương tiện KHKT tiến bộ nào, nhưng với cơ thể mở hòa nhập hoàn toàn với vũ trụ, người cổ xưa đã có thể nhìn tổng thể vũ trụ với 12 chòm sao mà nếu chờ sự quan sát-tổng hợp-đối chiếu-nghiên cứu của khoa học thì phải mất dễ đến hàng triệu năm, trong khi đó KHKY chỉ mới thực sự phát triển vài trăm năm gần đây; và nếu không có sự cho phép của Cõi Kia, liệu loài người hiện đại có thể có được những ý tưởng, những phát minh khoa học giúp hỗ trợ quan sát vũ trụ cũng như quan sát các đối tượng tinh vi siêu vi bên trong và bên ngoài con người hay không?), con người phải cật lực và rốt ráo luyện tập để xóa tan được lớp từ lực còn dày đặc làm phế đi tâm thức tối thượng và những khả năng huyền năng cao quý của con người. Thiền định (phát triển nội lực) và NLVT (tha lực) giúp thúc đẩy nhanh hành trình trở về của con người, giúp dọn sạch những đống lý thuyết và giúp hòa nhập trở lại vào tâm thức tối thượng ở băng tần zero.

Bạo gan nói dóc thế ạ

Luciola

THÂN GỬI LUCIOLA, "hậu bối" khả úy!

ĐÚNG là vản bối cố chấp một cách... đáng yêu (sic!)! Phần "nếu..." trên đây chính là cái kẹt cố hữu của tại hạ, vì lẽ duy nhất là tại chưa được mở (mắt) nên khó thấy cõi trên làm việc và chưa tin vội!!

Luciola cố gắng ...nói dóc tiếp để, chí ít, cũng còn một hai người đối tác kiên định để điễn đàn còn có members đọc- hay may ra chỉ có "chủ nhân" trang web nầy : lúc gần đây nhiều khi chí có ... 1 thành viên và không có khách khứa nào cả, thật não nề cho tình huống mang nặng nổi buồn... có tên !!!)

Thiên thu

thay đổi nội dung bởi: thien thu 2, 17-02-2014 lúc 6:38 am.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến thien thu 2 vì bài post hữu ích này:
haidong (18-02-2014)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Master Rememberance on the fourth year UEAA Your concerns about UE school 0 11-08-2011 5:48 pm
Happy Holidays farhad Relaxation, any subjects 7 06-01-2009 8:06 pm
Pray Ceremony and meditation Session to the Lunar year 2008 Tania News & Announcements 3 13-02-2008 8:50 pm
Blue Sun vladimir Everyday life application 4 16-01-2008 10:30 pm
Happy New Year 2008! Daniela Everyday life application 0 31-12-2007 4:40 am

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles