UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Thư giản - Linh tinh

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
15 dieu can suy gam theo thuyet Phat
Old 26-03-2010, 11:41 am  
Luciola
Senior Member
 
Luciola's Avatar
 

Default 15 dieu can suy gam theo thuyet Phat
15 dieu can suy gam theo thuyet Phat


Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được. Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.


1. Sống trong hiện tại

Phật hỏi đệ tử:
- Cuộc sống người ta được bao nhiêu?
Các đệ tử thay nhau trả lời:
- 80 năm.
- Sai.
- 70 năm.
- Còn sai.
- 60 năm.
- Sai.
- Vậy người ta sống bao lâu?
Phật mỉm cười đáp
- Đời người chỉ thuộc trong vòng hơi thở.

Lời bình
Đừng ỷ vào quá khứ và cái sắp tới, hãy sống với thực tại.



2. Sau khi chết người ta đi về đâu

Hoàng đế Goyozer đang học thiền với thiền sư Gudo Toshoku.
- Bạch thầy, sau khi chết, người ta đi đâu?
- Tôi không biết.
- Tại sao thầy không biết?
- Vì tôi chưa chết.
- ???

Lời bình
Khi sống, con người nên thưởng thức những vẻ đẹp và bí ẩn của cuộc sống theo cái nhiều người sống. Không cần quan tâm đến thế giới sau khi chết. Hãy sống trọn hôm nay, đừng lo ngày mai vì chuyện ngày mai thì mai mới xảy ra.



3. Định mệnh nằm trong bàn tay

Thời xưa, có vị tướng quyết tấn công địch dẫu quân địch mạnh hơn gấp nhiều lần. Trên đường
tiến quân, ông dừng chân ở một đền thờ cầu nguyện, xin giúp đỡ. Sau đó, ông rút ra một đồng
xu và nói lớn với quân sĩ:
- Bây giờ, ta sẽ lấy đồng xu để xin keo.Nếu là sấp, quân ta sẽ thắng còn ngửa thì quân ta sẽ bại.
Chúng ta phó mặc mạng sống cho định mệnh. Đồng xu bay lên, xoay mấy vòng và rơi xuống
đất.
- Sấp rồi ! Chúng ta sẽ thắng ! Hãy xông lên chà nát quân thù ! - Ba quân reo hò phấn khởi.
Sau trận chiến, toàn bộ quân địch hùng hậu đông đảo bị đánh bại hoàn toàn. Vị phó tướng vui vẻ nói với tướng quân:
- Không ai có thể thay đổi được bàn tay định mệnh.
Tướng quân chỉ mỉm cười không đáp. Ông xoè tay đưa đồng tiền ra. Cả hai mặt đồng xu đều là mặt sấp.

Lời bình
Thiên đàng rất công bằng đối với tất cả mọi người, không thiên vị dành riêng cho ai. Sự giúp đỡ duy nhất mà bạn có được là chính bản thân bạn !!!



4. Con sóng nhận thức

Nhìn thấy một con sóng cao lớn bên cạnh, con sóng nhỏ tỏ ra bực mình:
- Bực ghê. Sóng kia lớn quá, sao ta bé tí. Chúng mạnh mẽ xiết bao sao ta yếu đuối thế này.
Con sóng to cười đáp: - Đó là vì không nhận ra gốc gác của mình mà bạn buồn bực thế.
- Tôi không là sóng thế là gì?
- Sóng chỉ là hình thức tạm thời trong bản chất của bạn. Kỳ thực bạn là nước. Một khi nhận ra
bản chất của chính mình là nước, bạn sẽ không còn ấm ức với cái vỏ sóng này và không còn
buồn bực gì nữa.
Con sóng nhỏ hiểu ra, cười vui vẻ:
- À, bây giờ thì tôi hiểu. Bạn và tôi tuy hai mà một.

Lời bình
Con người cho rằng "ngã" là ta nên xảy ra phân biệt ta và người mà buồn khổ. Thực ra loài người được cấu tạo cùng một bản chất trong thiên nhiên bao la.



5. Thiên đường địa ngục

Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi:
- Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không?
- Thế ngài là ai?
- Tôi là tướng quân.
Bất ngờ, thiền sư cười lớn:
- A ha! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy,trông ông giống anh hàng thịt.
Tướng quân nổi giận, rút gươm:
- Tao băm xác mi ra !!!
Thiền sư vẫn điềm tĩnh:
- Này là mở cửa địa ngục.
Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy:
- Xin... xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.
- Này là mở cửa thiên đường - thiền sư Ekaku mỉm cười.

Lời bình
Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ!
Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào.



6. Thiên đàng địa ngục đều do tâm tạo

Có một bà lão biệt danh "mụ già hay khóc". Trời mưa, mụ cũng khóc, trời không mưa mụ cũng khóc. Có người hỏi bà:
- Bà lão ơi, sao bà lại khóc?
- Tôi có hai con gái, cô chị bán giày vải, cô em bán dù. Khi trời nắng ráo, lão nghĩ tới con em bán dù không được. Khi trời mưa, lão lại lo cho con chị, mưa gió không có khách nào chịu mua giày.
- Lão nên nghĩ rằng khi trời đẹp đứa lớn sẽ bán được, khi trời mưa đứa nhỏ bán dù rất chạy.
- À, ông có lý.
Từ đó, "mụ già hay khóc" thôi khóc. Bà lão cười suốt ngày dù trời mưa hay nắng.

Lời bình
Một điều lợi hay bất lợi sẽ tuỳ thuộc vào cách nhìn, cách suy nghĩ của bạn.



7. Phật tại gia

Yangpu về tỉnh Sichuan định tâm tìm kiếm Bồ Tát. Trên đường đi, Yangpu gặp một nhà sư. Nhà sư hỏi:
- Cậu đi đâu đấy?
- Tôi đi cầu Bồ Tát.
- Bồ Tát ở xa, chi bằng đi tìm Phật có hơn không?
- Tìm Phật ở đâu bây giờ?
- Khi cậu về nhà, thấy người đón cậu trên mình khoác cái mền, chân xỏ dép trái, đó chính là Phật.
Theo lời, cậu về nhà thì trời đã khuya. Mẹ cậu nghe con gọi cửa mừng quá vội khoác mền lên
người, xỏ dép trái. Bà chạy ào ra mở cửa và khi Yangpu thấy mẹ mình như vậy thì đứng chết lặng.

Lời bình
Người ta tìm chân lý nhưng điều cần là thực thi ngay trong lòng, không thì khó mà gặp được.



8. Ngón tay chỉ mặt trăng

Sư Wu Jincang hỏi Lục Tổ Huệ Năng:
- Con đọc kinh Đại Bát Niết Bàn bao năm rồi mà vẫn chưa hiểu. Xin tổ sư soi sáng cho.
Lục Tổ Huệ Năng cầm quyển kinh đưa cho ni sư, nói:
- Ta không đọc được chữ, con hãy đọc, ta sẽ giúp con hiểu.
- Tổ không đọc chữ sao ngài hiểu thông nghĩa được? - Jincang rất ngạc nhiên.
Lục Tổ Huệ Năng thủng thỉnh đáp:
- Chân lý không dựa vào chữ nghĩa. Nó giống như trăng soi trên trời. Trong trường hợp này,
chữ nghĩa giống như ngón tay trỏ vậy. Ngón tay chỉ trăng mà nó không phải là trăng. Xem trăng có cần ngón chỉ không?

Lời bình
Ngôn ngữ văn tự đều là biểu tượng diễn chân lý. Đừng lầm chữ nghĩa với chân lý như đã lầm ngón tay với mặt trăng.



9. Ai đó

Kitagaki, thống đốc bang Kyoto, đến viếng đền Tofuku để thăm Keichu - vị sư trưởng đền này.
Đệ tử của Keichu vào báo:
- Kitagaki, thống đốc Kyoto muốn diện kiến thầy.
- Ta không biết thống đốc nào cả - Sư trưởng trả lời.
Đệ tử chạy ra nói với Kitagaki:
- Thầy tôi yêu cầu ngài lui gót vì không quen thống đốc nào cả.
Kitagaki hiểu ra:
- Nếu vậy, hãy báo với thầy anh có Kitagaki
muốn diện kiến.
- Để tôi thử lần nữa.
Lần này, sư trưởng ra đón tận nơi:
- Ồ, Kitagaki đấy à. Mời vào nhà.

Lời bình
Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được.



10. Càng vội càng chậm

Một thanh niên nọ lên núi tìm kiếm sĩ lừng danh để học kiếm thuật. Anh ta hỏi vị sư phụ:
- Thưa thầy, nếu con luyện tập chuyên cần thì phải bao lâu mới thành kiếm sư?
- Có lẽ 10 năm.
- Cha con đã già rồi và con phải chăm sóc ông. Nếu con luyện tập chuyên cần hơn nữa thì mất bao lâu?
Lặng yên suy tư một lúc, vị sư phụ đáp:
- Trường hợp này có lẽ phải 30 năm.
Anh thanh niên không giấu được vẻ nôn nóng:
- Trước thầy bảo 10 năm, bây giờ 30 năm. Con sẽ vượt qua mọi trở lực để nắm vững kiếm thuật với thời gian ngắn nhất.
- Thế thì anh cần phải ở lại đây 70 năm - Vị sư phụ mỉm cười.

Lời bình
Những người quá nóng nảy muốn đạt đến kết quả thì hiếm khi thành công.



11. Đèn đã tắt

Một anh mù đến từ giã bạn mình. Người bạn cho anh một cây đèn lồng. Anh mù cười hỏi:
- Tôi đâu cần đèn lồng. Với tôi, sáng hay tối có gì khác.
- Tôi biết. Nhưng nếu không mang nó theo, trong bóng tối người khác có thể đụng vào anh.
- Ồ, vậy thì được.
Đi được một đoạn, bất ngờ anh mù bị một người đâm sầm vào. Bực mình, anh ta quát:
- Bộ không thấy đèn hả?
- Đèn của ông đã tắt từ lâu rồi mà.

Lời bình
Người nào dùng lời kẻ khác để dạy người có thể giống anh mù này. Đèn đã tắt từ lâu, tuy nhiên anh ta không biết điều đó.



12. Bình thường tâm

- Bạch thầy, sống theo Đạo một cách siêng năng là thế nào?
- Khi đói hãy ăn, khi mệt hãy ngủ.
- Đó là những điều mà mọi người thường làm mà?
-Không, không ! Hầu hết mọi người đều không làm như vậy. Khi ăn, mọi người đầy những suy tư, ao ước và khi ngủ lại đầy những lo toan.

Lời bình
Có bao nhiêu người mà mỗi sáng thức dậy mà đầu óc không bận bịu những chuyện quá khứ?
Con người phải vứt bỏ những điều nguy đã gây ra bão tố nội tâm và sống theo bản chất nguyên thuỷ của họ vì Đạo nằm ngay trong đời sống hằng ngày.



13. Thiền trong chén trà

Vị giáo sư đại học đến gặp thiền sư Nan In để tìm hiểu Thiền. Nan In mời ông uống trà. Nan In rót đầy chén trà rồi mà cứ thế rót thêm. Giáo sư nhắc:
- Kìa thầy, chung trà đầy tràn rồi, xin đừng rót nữa.
Nan In cười đáp:
- Như chung trà này, ông cũng đầy ắp những quan niệm của ông. Nếu trước tiên, ông không
cạn chén thì sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được.

Lời bình
Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.



14. Con quỷ bên trong

Nhà sư nọ mỗi khi bắt đầu nhập định đều thấy một con nhện khổng lồ làm ông bối rối. Nhà sư
liền vấn ý sư Tổ:
- Mỗi khi con bắt đầu nhập định thì luôn có một con nhện khổng lồ xuất hiện, dẫu có đuổi thế nào nó cũng không đi.
-Lần tới, nếu thấy con nhện xuất hiện, con hãy vẽ một vòng tròn to làm dấu xem nó từ đâu đến.
Nhà sư làm đúng như vậy. Khi ông vẽ vòng tròn to vào bụng con nhện, con nhện chạy đi, ông lại có thể tiếp tục thiền định. Sau buổi thiền định, nhà sư rất bối rối khi thấy vòng tròn nằm ngay trên bụng mình.

Lời bình
Trong cuộc sống, con người gặp phải nhiều xáo trộn và âu lo, phiền nhiễu. Nhưng âu lo tệ nhất thường là từ chính bản thân mình mà ra.



15. Đích tới có một đường đi không cùng

Một tăng đồ hỏi Thiền sư Baling Haojian:
- Nghĩa lý của sư tổ và ý nghĩa của giáo lý có gì giống và có gì khác nhau?
- Khi vịt lạnh, chúng lội xuống nước. Khi gà lạnh chúng đậu trên cây.

Lời bình
Lạnh vẫn lạnh nhưng phương thức tránh lạnh lại khác nhau. Cùng một mục tiêu nhưng mỗi loài lại có cách riêng của chúng. Để đạt mục tiêu không chỉ có một con đường, không phải ai cũng đi theo một con đường. Hãy khéo chọn...

thay đổi nội dung bởi: Luciola, 26-03-2010 lúc 11:53 am.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 6 người đã gửi lời cảm ơn đến Luciola vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (27-03-2010), htxmai2001 (29-03-2010), nichiko_27590 (26-03-2010), Thang Nguyen (28-03-2010), thanhnha618 (27-03-2010), Udambara (26-03-2010)
Nước Từ Bi
Old 29-03-2010, 10:43 am  
Luciola
Senior Member
 
Luciola's Avatar
 

Default Nước Từ Bi
Nước Từ Bi

Tsoknyi Rinpoche


Cái thấy đúng đắn, chân thật là cái thấy về sự hợp nhất không phân ly giữa tánh không và từ bi. Sự điên đảo khởi lên khi lầm lẫn một sợi dây thừng với một con rắn. Đó là một sự lầm lẫn rõ ràng vì hiển nhiên sợi dây thừng không phải là con rắn.

Làm sao để có được cái thấy đó? Chúng ta có vô số niệm tưởng, cái nầy tiếp nối cái kia, vận hành trong tính chất nhị nguyên chủ thể và đối tượng. Khi chủ thể chạy theo nắm bắt đối tượng, chúng ta gọi là tâm hay tâm thức. Khi có sự liên hệ chủ-khách nầy thì nghiệp phát sinh. Khi nghiệp phát sinh thì liền có điên đảo.

Cái luôn luôn tìm bắt đối tượng đó là cái chúng ta cần khám phá. Thật sự nó là cái gì? Hãy nhận diện một cách rõ ràng và trực tiếp cái gì đang khởi lên. Hãy đơn giản và trực tiếp như bật sáng một ngọn đèn. Thay vì chạy theo niệm tưởng cái nầy tiếp nối cái kia, hãy để một khoảnh khắc cho phép tâm nhận ra chính nó. Khi đó, không còn cái gì để nhìn thấy ngoài một sự mở toang. Bản chất của tâm là rỗng không, rộng mở và tự do.

Cái tâm bận rộn, chấp trước nầy,
Luôn luôn khóa mình vào sự việc bên ngoài,
Hãy cho nó một phút nghỉ ngơi để nhìn ra chính nó.
Trong phút giây nhận ra đó,
Tâm nầy sẽ trở nên rộng mở,
Tự do, và không giới hạn.
Cái đó được gọi là tánh không.

Đồng thời, có một sự nhận biết chắc chắn rằng nó là rỗng không.
Cái đó được gọi là tánh biết.
Tánh không và tánh biết của tâm vận hành cùng lúc.
Chúng không phải là hai thứ riêng rẽ.
Trong thực tế, chúng không thể phân ly.
Cái đó được gọi là vô ngại.
Biết ba thứ nầy cùng một lúc –
Tánh không, tánh biết, và tánh vô ngại –
Đó được gọi là thấy.

Theo đó, có được cái thấy (kiến) là biết rằng tâm cùng một lúc rỗng không trong bản thể và thức giác trong bản tánh.

Bản thể ví như mặt trời. Tánh của mặt trời là sáng, tạo sức ấm và chiếu ánh sáng. Cũng vậy, chúng ta cần phân biệt giữa tâm và bản thể của tâm. Bản thể của tâm có đủ ba tính chất. Thể của nó là rỗng không, tánh của nó thức giác, và luợng của nó là vô biên hay vô ngại.

Phật tánh là tính chất cơ bản của mọi sự vật. Đó là trạng thái tự nhiên, không do đức Phật hay chúng sanh nào tạo ra. Đó là chân lý cứu cánh. Dù đức Phật có xuất hiện hay không xuất hiện, bản tánh của sự vật vẫn là bản tánh của sự vật. Đức Phật là người nhận ra điều chân thật, điều thật sự hiện hữu. Nếu muốn giác ngộ, chúng ta cũng chỉ cần nhận ra điều chân thật đó.

Nền tảng cơ bản đó có thể được nhận ra qua sự tu tập. Chúng ta tiếp xúc với cái đã sẵn có để khởi đầu. Khi còn bị đánh lừa và còn đang trên con đường tu tập, chúng ta không thấy cái đó như chính nó. Chúng ta lầm nó với một thứ gì khác, như dây thừng mà nhìn ra con rắn. Chúng ta cần vuợt qua sự điên đảo tạm thời đó.

Để vượt qua những trạng thái điên đảo trên con đường tu tập, chúng ta cần có nhận thức, thiền quán và giới luật. Khi thấy được cái tâm tự nhiên, chúng ta bắt đầu thấy được một mảng nền. Càng làm quen với cái thấy đó, chúng ta càng thấy rõ hơn, cho đến khi chúng ta thấy được toàn thể cái nền.

Do đó, nội dung sự tu tập gồm có ba phương diện: thấy, hoàn thiện cái thấy, và ổn định trong cái thấy đó. Chúng ta cần làm cho sự điên đảo không còn nữa. Khi tiếp xúc bằng mắt, hãy làm cho sự điên đảo không còn. Khi tham thiền, hãy làm cho sự điên đảo không còn. Khi thực hành giới luật, hãy làm cho sự điên đảo không còn. Khi mọi sự điên đảo hoàn toàn được dọn sạch, chúng ta có thể gọi đó là kết quả.

Khi chưa biết hay chưa thể nghiệm được sự không phân ly giữa tánh không và từ bi, chúng ta khó đi hết cuộc đời một cách êm thắm.

Hình dung một cặp vợ chồng chung sống trong hạnh phúc và thương yêu. Rồi một ngày, người vợ nghe được giáo pháp, yêu mến giáo pháp và có một sự hiểu biết về tánh không. Người vợ nhận ra rằng không có gì trên đời nầy có bản chất vững bền, mọi sự vật đều không có nền tảng chân thật, đều không có bản thể. Đối với cô, mọi sinh hoạt trước kia - những tiệc tùng, sắm sửa v.v… không còn ý nghĩa gì nữa. Và cô bắt đầu sống khép mình, ngưng mọi sinh hoạt đó.

Từ một một điểm nhìn, điều mà người vợ suy nghĩ là sự thật. Mọi sự vật trong thực tế đều không có bản thể.

Trong khi đó, người chồng lại nghĩ: “Vợ mình đã thay đổi. Có thể mình làm điều gì sai chăng? Có thể nàng có một tình nhân mới chăng?” Và khi người chồng đề nghị những cuộc đi chơi, người vợ đều từ chối … Người chồng bắt đầu cảm thấy không vui, hai người bắt đầu mâu thuẩn và rồi đưa đến đổ vỡ…

Vấn đề ở đây là tuy người vợ có một mức độ hiểu biết nào đó về tánh không nhưng không có đủ tâm từ bi. Nếu có tâm từ bi hơn, cô sẽ nhận ra rằng mặc dù có những sự việc có thể không có ý nghĩa, nhưng không cần thiết phải bị loại trừ. Chúng có thể không có ý nghĩa đối với mình, nhưng có thể quan trọng đối với người khác. Nếu biết mở lòng và có tâm từ bi, nguời vợ sẽ cảm thấy vui vẻ khi tạo niềm vui cho người khác dù những việc đó đối với cô là không có ý nghĩa. Có thể cô sẽ còn tích cực hơn trước kia khi thực hiện những việc đó. Đó là phong cách của Đại Thừa.

Sự không phân ly giữa tánh không và từ bi có nghĩa là hai cái đó chỉ là một. Chỉ hiểu về tánh không và về sự không ý nghĩa của sự vật một cách tổng quát cũng chưa đủ. Điều đó có thể làm cho chúng ta trở nên ích kỷ và lãnh đạm. Nếu chỉ hiểu tánh không một chiều, nghĩ rằng “Các sự vật đều không có ý nghĩa và không có gì liên quan đến mình,” chúng ta cũng sẽ bị dẫn đến thái độ không quan tâm đến những điều có liên quan đến người khác. Chúng ta có thể nói rằng “Tôi sẽ chỉ ngồi đây và tham thiền bởi vì như thế tôi sẽ có niềm vui. Tôi không quan tâm đến việc gì khác.”

Từ bi mà không có sự hiểu biết về tánh không thì dễ trở thành chấp trước. Ngược lại, hiểu về tánh không mà không có từ bi thì trở nên ích kỷ, một chiều và hạn hẹp. Để tránh những mối nguy đó, điều rất quan trọng là hiểu về sự duy nhất giữa tánh không và từ bi. Cái tâm trần truồng, hiện thời trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta là cánh cửa cho sự hợp nhất của tánh không và từ bi.

Cánh cửa nầy bị khóa kín do sự chiếm ngự của dòng niệm tưởng chảy qua không ngừng. Nhưng nếu chúng ta bắt được chỉ một khoảng cách giữa một niệm với niệm kế tiếp, chúng ta liền có thể nhìn thấy cái tâm trần truồng hàng ngày, sự tỉnh thức tự tại. Khi đó cánh cửa mở ra ngay ở đó, để từ bi và tánh không hiển lộ trong sự hợp nhất. Đó là khoảnh khắc vô tận.

Những tính chất trí tuệ của tâm giác ngộ – trí tuệ thấy được bản tánh bên trong một cách như thật và trí tuệ phân biện mọi sự vật – hầu như không ngớt bị ngăn chận do những niệm tưởng mà chúng ta tạo ra. Những niệm tưởng nầy trong thực tế chỉ có nền tảng tạm thời; trong bản chất chúng là thời gian. Khi chúng ta nhận ra được những khoảng cách trong dòng niệm tưởng nầy, những tính chất nội tại của trạng thái giác ngộ sẽ chiếu qua.

Khi ngã không còn bám víu vào niệm tưởng, từ bi sẽ hiện ra trong sự thể nghiệm đó. Từ bi chân thật không bị hướng dẫn và không nương tựa trên ý niệm. Từ bi chân thật chỉ có được khi thể nghiệm tánh không.

Dĩ nhiên, chúng ta cũng có thể cảm thấy từ bi ngay bây giờ. Tuy nhiên, từ bi đó không phải là từ bi chân thật, nó luôn luôn pha trộn với những khung niệm tưởng. Trong cái từ bi pha trộn đó, thường chúng ta cảm thấy một khoảng cách nào đó giữa chúng ta và người khác. “Tôi ở đây, và chúng sanh ở chỗ kia. Tôi cao cả hơn họ. Họ là những kẻ đáng thương. Họ cần sự giúp đỡ, vì vậy tôi phải giúp họ.” Đó không phải là từ bi chân thật.

Tánh chất của Tâm là tỏ rõ, một tính chất giác ngộ tự nhiên. Từ bi xuất hiện từ đó. Từ bi nầy không nhắm đến một người hay một số người đặc biệt nào. Trong từ bi đó không có ý niệm về “chúng sanh khác,” nhưng vẫn ân cần hướng đến những chúng sanh khác chưa nhận ra bản tánh của tâm. Từ bi ở đây là lòng thương xót những chúng sanh không nhận biết rằng bản tánh của mình vốn là hoàn toàn giác ngộ, và vì không nhận biết nên bị đánh lừa tự giam hãm trong luân hồi. Cách vươn ra bên ngoài nầy có thể được gọi là từ bi vô niệm, từ bi chân thật. Từ bi đó không nhất thiết phải giống như trạng thái giác ngộ hoàn toàn của đức Phật. Nhưng nó là dấu hiệu của một hành giả đi trên con đường tu tập, một hành giả thực thụ.

Tuy nhiên, chưa nhận ra bản tánh của tâm, không có nghĩa là không thể có từ bi chân thật. Còn có một con đường từ bi hữu niệm. Đó là cái khung của tâm thức trong đó người Phật tử coi người khác quan trọng hơn mình. Thông thường chúng ta coi mình quan trọng hơn kẻ khác. Khi chúng ta bắt đầu có cái nhìn cho rằng người khác là quan trọng hơn mình, khi đó chúng ta có lòng từ bi chân thật mặc dù vẫn còn ý niệm.

Khi nhận ra bản thể của tâm, một cảm nhận về sự tỉnh thức và tự do lớn lao xuất hiện, khi đó chúng ta có kinh nghiệm về lòng từ bi chân thật. Có một sự nhạy cảm tự tại, không tùy thuộc vào điều kiện, một sự nhạy cảm sâu xa. Sự buồn phiền theo nghĩa bị đè nén không còn, nhưng có thể có một trạng thái buồn do nhạy cảm, đồng thời với chút niềm vui. Không phải buồn cho bản thân. Cũng không phải buồn cho một người đặc biệt nào đó. Cái đó giống như sự thấm đẫm của nước trái cây, như một trái táo thấm đẫm với nước táo.

Cũng vậy, sự mở ra của tánh không được thấm đẫm với nước ngọt từ bi. Nhận biết bản tánh rỗng không nầy một cách rõ ràng liền mở ra một niềm tin vững chắc. Niềm tin nầy nầy có một mùi vị.

Khi mặt trời lặn ở phương tây, nếu chúng ta bước ra bên ngoài và ngồi xuống, hướng về phía mặt trời đang lặn, một cảm giác từ bi sẽ khởi lên một cách dễ dàng, tự phát. Đó là thứ tự do với một chút vui, một chút nhạy cảm, một chút buồn. Tất cả đều tự đến. Nếu chúng ta không hoàn toàn mở rộng và tâm không được giải phóng khỏi những điên đảo, nỗi buồn nhẹ nhàng nầy sẽ không được cảm nhận một cách chân thật, ngay cả không được nhận biết.

Từ bi mà không có tánh không dễ trở thành bám víu ích kỷ. Ngược lại, hiểu về tánh không mà không có từ bi sẽ trở nên ích kỷ, một chiều, và hạn hẹp.

Khi không còn dính mắc vào ý niệm về ngã, thể nghiệm về cái đó đồng thời là sự hiển lộ của từ bi.

Thị Giới dịch (từ Tricycle)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến Luciola vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (02-04-2010), thanhnha618 (29-03-2010), trungxldongnai (29-03-2010)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Trí Tuệ Tế Bào thatsonphutu Thư giản - Linh tinh 24 28-05-2013 12:52 pm
Bảy Luân Xa Luciola Những quan tâm của bạn về ngành Nhân Điện 5 31-12-2010 1:28 am
Tam linh thien dinh thatsonphutu Tâm linh 1 17-10-2009 10:10 pm
Pháp sư Hamud nói về cõi vô hình. Nhat nguyen Cõi vô hình 11 28-06-2009 1:56 am

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles