UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Tâm linh

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
ThÔng ĐiỆp TỪ MỘt BỘ LẠc KỲ BÍ GỞi Cho ThẾ GiỚi VĂn Minh HiỆn Nay
Old 10-01-2008, 2:17 pm  
dung9610
Senior Member
 

Default ThÔng ĐiỆp TỪ MỘt BỘ LẠc KỲ BÍ GỞi Cho ThẾ GiỚi VĂn Minh HiỆn Nay
CUỘC DU HÀNH VÀO XỨ KOGI
THÔNG ÐIỆP TỪ MỘT BỘ LẠC KỲ BÍ GỞI CHO THẾ GIỚI VĂN MINH HIỆN NAY

Trong kỳ Ðại hội Tôn giáo thế giới họp tại thành phố Chicago (Mỹ quốc) đại biểu các nước trên thế giới đã vô cùng kinh ngạc khi họ nghe ký giả Lan Ereira trình bày sự kiện là họ đã thực hiện một chuyến du hành vào xứ huyền bí đó là bô lạc Kogi một bộ lạc mà từ mấy nghìn năm nay chưa thấy tài liệu sách sử nào nói tới. Sống trên núi cao, trong rừng sâu Người KOGI luôn luôn như giữ bí mật về sự hiện hữu của mình vì thế mà họ thường rút vào trong những khu rừng rậm rạp sâu thẳm và định cư nơi những núi cao quanh năm mù mịt những đám mây mù đày đặc. Về mặt địa lý thì đây là vùng đất huyền bí thuộc rặng Sierra, nơi mà người dân bạo dạn của xứ Nam Mỹ cũng không dám bén mãn đến vì sợ Thần linh nơi đây quở phạt.

Sự khám phá ra bộ lạc Kogi này là một tình cờ hay là đúng vào thời điểm quan trọng mà nhân loại đang cần tới họ? Năm 1974, một chiếc phi cơ bay lạc vào khu rừng rậm xứ Colombia thuộc Nam Mỹ châu - về phía bắc của rặng Sierra, phi công của chiếc máy bay này đã khám phá ra bên dưới thấp thoáng một công trình xây cất cổ xưa bằng đá có hình dạng kim tự pháp nhưng không giống kim tự tháp Ai Cặp hay kim tự tháp thường thấy ở Nam Mỹ.
Nhờ sự phát hiện vừa nói mà vô số nhà khảo cổ và Ðịa chất học đã đến nơi đây bắt đầu khám phá và họ đã khẳng định rằng công trình xây cất khác lạ này chứng tỏ người dân nơi đây có nền văn minh rất cao. Ðiều chứng minh rõ ràng là những con đường đi lại làm bằng đá và rất có hệ thống - 'Ngoài ra là còn có những đường cống thoát nước mà cấu trúc cũng như cách đặt để rất có kỷ thuật. Khi phân tích về đồng vị phóng xạ để xác định thời gian thì các nhà khảo cổ đã khám phá ra rằng đây là di tích của nền văn minh xuất hiện cách đây khoảng 7 hay 8 nghìn năm - nghĩa là còn trước cả thời đại văn minh của xứ Incas và Maya ở Nam Mỹ nữa.

Lúc đầu các nhà khảo cổ tới đây nghiên cứu tìm hiểu, họ không gặp bất kỳ một bóng dáng nào của thổ dân sống ở đây - Mọi vật như chìm đắm trong im vắng lặng lẽ đến kỳ lạ, Nhưng những công trình xây cất bằng đá lâu đời dần dần được khám phá thêm và nhất là những khối đá lớn được cắm nơi những con đường có ghi những ký hiệu hay chữ rất lạ. Như vậy vùng đất bí hiểm này chắc chắn là có người trú ngụ Nhưng tại sao không thấy một ai ?

Về sau họ mới biết rằng nơi đây có một bộ lạc tên là Kogi đó là hậu duệ của một nền văn minh xưa cổ đã biến mất từ mấy nghìn năm trước. Những người Kogi rất nghi kỵ những người khác bộ lạc - Họ hầu như không muốn liên lạc hay tiếp xúc với bất kỳ ai - Vì thế họ rút dần lên vùng núi cao nơi mây và sương mù bao phủ quanh năm giúp cách biệt họ với loài người.

Một số nhà khoa học cũng như nhà báo đã tìm moi cách tìm gặp tiếp xúc với người bộ lạc Kogi nhưng tuyệt nhiên họ không thành công vì người Kogi thường tìm cách lảng tránh.

Về sau vì may mắn hay vì một lý do nào khác một ký giả của đài BBC Luân Ðôn lên là Alan Ereira đã được một người đại diện của bộ tộc Kogi tiếp xúc. Người này cho hay là ký giả này sẽ được tự do vào thăm viếng và chuyện trò với người của bộ lạc - họ còn cho biết là ký giả này có thể mang theo một số người (khoảng 4 hay 5 người) đi theo để phụ giúp.

Ðầu năm 1993, ký giả Alan Ereira tháp tùng bởi 5 người gồm một ký giả ba nhân viên thu hình và một nhân viên y tế lên đường. Ðể có thể thu thập được nội dung của cuộc trao đổi phỏng vấn với người Kogi, phái đoàn này còn tìm được một người của bộ lạc kế cận có thể nói được tiếng Kogi làm thông dịch.

Sau một thời gian len lõi trong rừng sâu núi thẳm của vùng Nam Mỹ, họ lên được một đỉnh núi cao của miền Sierra sau khi hồi hộp đi qua clùếc cầu treo như lơ lửng trên những hố sâu và vực thẳm để vào nơi bộ tộc Kogi sinh sống. Họ được một số người đại diện bộ tộc ra đón. Ðó là những vị Trưởng lão - Những người này ăn mặc giống nhau: vải dệt từ những loại sợi dày màu trắng - đầu họ đội loại mũ có vành hơi rộng cũng màu trắng - Tóc họ màu đen, dài, quăn, da ngăm...

Trước tiên phái đoàn được cho biết là họ được phép ở lại đây 3 ngày. Ðây là một trường hợp đặc biệt và sẽ không bao giờ còn có sự gặp gỡ này nữa.
Khi nhóm của ký giả Lan Ereira an toạ trên những cái ghế thấp bằng thân cây thì một vị cao tuổi trong bộ tộc mời họ uống nước và bắt đầu nói như giải thích:- Có thể đây là một ngoại lệ, vì từ mấy nghìn năm qua chúng tôi theo điều luật của dòng họ, không bao giờ tiếp xúc với bất cứ ai ngoài người trong bộ tộc. Có lẽ quý vị sẽ hiểu rõ nguyên do vì sao mà Hội đồng trưởng lão của bộ tộc chúng tôi đã quyết định có cuộc hội ngộ hôm nay. Người đang đứng đầu xa để chỉ về điều mà vị này vừa nhắc tới về sức khoẻ thì nhân viên y tế trong phái đoàn ngỏ ý muốn “xem qua” sức khoẻ họ. Người này lần lược dùng các dụng cụ y khoa đo huyết áp, khám phổi, khám răng, thử máu vân vân.. Ðiều kỳ diệu là không tìm thấy một dấu hiệu nào về tật bệnh hay sức khoẻ suy kém nơi những người mà họ đã cẩn thận kiểm tra sức khoẻ. Ðặc biệt nhất là hàm răng của họ rất khoẻ mà không có dấu vết hay tình trạng răng hư, răng sâu. Tuy vậy vị trưởng lão cho biết là vẫn có trường hợp có người qua đời vì bệnh nhưng rất ít và thường xảy ra khi đứa bé mới lớn - Một khi vị trưởng lão khám nghiệm thấy không thể chữa khỏi thì cha mẹ đứa bé sẽ chấp nhận mất con vì họ cho đó là luật của tự nhiên. Tuổi thọ của người Kogi rất cao thường là hơn 100 tuổi.

Khi thấy những người Kogi hay cầm một các ống bằng gỗ đựng vôi và dùng cái que gỗ xoay vòng cho vôi tan tành bột và lâu lâu lại chấm vào lưỡi thì ký giả Alan Ereira hỏi vị trưởng lão:
- Thưa trưởng lão, người có thể giải thích về những cái ống vôi và hành động làm tan vôi cho chúng tôi biết rõ ý nghĩa được không?
Vị trưởng lão đáp:
- Hành động mà ông thấy đó rất có ý nghĩa vì nhắc nhở mọi người trong chúng tôi luôn luôn ghi nhớ là hãy trau dồi mài dủa Thân và Tâm giúp hiểu rõ đời sống một cách đúng đắn và vẹn toàn – Cũng chính nhờ vậy mà mỗi người đều ý thức được những việc khác kỳ diệu, phi thường hơn.
Phái đoàn đã quan sát nhiều nơi tuy nhiên vẫn còn nhiều vùng bị giới hạn không thể tới hay không thể quan sát tìm hiểu được. Theo ký giả Ereira thì người trong bộ lạc có tư tưởng rất tự do phóng khoáng. Mọi người đều có quyền phát biểu trong các cuộc thảo luận. Tại đây, chung cuộc sẽ là quyết định chung chớ không do một nhân vật có quyền uy nào ra lệnh cả.
Dưới đây là một số câu hỏi đáp giữa những người trong phái đoàn và những vị trưởng lão:

Hỏi: Xin hỏi rằng: Quý vị quan niệm ra sao về bệnh tật?
Trả lời: Sở dĩ tật bệnh phát sinh là do con người sống trái với luật chúng tôi là con cháu của một giống dân rất xưa cổ và có thể nói rằng tổ tiên chúng tôi đã có mặt trên quả đất này từ lâu đời lâu hơn cả tổ tiên quý vị nữa. Ngày nay chúng tôi toàn thể người trong bộ tộc vẫn sống tiếp tục theo những gì mà tổ tiên chúng tôi đã sống, đã suy nghĩ và hoạt động.. Vì chúng tôi đại diện cho thế hệ con người có mặt trên trái đất này sớm hơn quý vị nên tự cho mình là những người anh cả trong gia đình rộng lớn của loài người. Như thế quý vị được chúng tôi xem là em ...

Thế giới có nhiều khác biệt về sắc dân, phong tục tập quán nhưng cũng vẫn có những điều tương hợp giống nhau - Ví như trong một gia đình thì người anh phải chỉ bảo cho người em nhiều điều mà người em chưa biết - Tuy nhiên phần lớn người em vì còn hăng hái, bướng bỉnh nên họ thường không nghe theo - và trãi qua biết bao nghìn năm rồi họ vẫn không nghe vẫn chưa hiểu, chưa thấy, chưa giác ngộ trong cuộc sống - vì thế mà những đàn anh như chúng tôi đành phải im lặng đợi chờ vì biết đâu khi đàn em đi vào nếp sống gọi là văn minh khoa học kỷ thuật thì trí óc họ sẽ mở mang bừng sáng để thấy rõ là mình đã sai lầm lớn lao trong cách sống như thế nào? Nhưng mãi hoài những người này ngày càng lầm lạc mê mờ, tự huỷ hoại mình và cả môi trường đất đai nơi họ sinh sống nữa - Sự sai lầm lớn lao ấy đã tới giai đoạn hiểm nguy báo động. - Vì thế chúng tôi nghĩ và quyết định là đã tới lúc phải lên tiếng, phải nói rõ về những sai lầm mà những người em đã phạm phải. Chính vì lẽ đó mà có buổi gặp gỡ hôm nay -vì nếu chậm sẽ quá muộn ....

Khi quý vị bước chân vào đây và quan sát đời sống của những người dân chúng tôi quý vị chắc chắn sẽ thấy có sự trái ngược lạ lùng với đời sống của quý vị - Một bên văn minh tiến bộ, một bên đơn sơ mộc mạc - Tuy nhiên, đời sống càng văn minh tiến bộ bao nhiều thì sự xấu xa, nguy hiểm tàn tạ lại càng đến mau bấy nhiêu. Trong khi đời sống đơn sơ mộc mạc bình thản thì lại làm cho con người được an cư lạc nghiệp bấy nhiêu Ðiều mà chúng tôi muốn đề cao ở đây là sức khoẻ của mọi người trong các làng. Phần lớn ít có vấn đề hay không có vấn đề.

Khi vị đại diện bộ tộc đưa tay quét một vòng về phía một số tự nhiên. Nếu chúng ta quan sát kỷ môi trường và thiên nhiên, ta sẽ thấy tất cả đều có một nhịp sống hài hoà để giữ thế cân bằng sinh thái. Một khi con người sống không thuận theo thiên nhiên tức là trái với luật tự nhiên, Mà trái với luật tự nhiên thì dĩ nhiên cơ thể sẽ có những xáo trộn và từ đó phát sinh bệnh.
Hỏi: Thế nào là sống thuận theo thiên nhiên? Giúp cân bằng thiên nhiên?
Trả lời: Chúng tôi xin nêu một thí dụ mà thí dụ này chính quý vị đã và đang thực hiện Ðó là việc gieo trồng canh tác của quý vị ngày càng phát triển, nhưng vì đuổi theo lợi nhuận, cạnh tranh nên quý vị đã không từ nan dùng những chất hoá học thúc đẩy tiến trình phát triển của cây trái, của lúa mì, lúa mạch. Ngay cả những súc vật nuôi như heo gà, bò, cá, tôm… quý vị cũng không từ nan dùng hoá chất thúc đẩy cho chúng lớn. Làm như vậy tức là quý vị đã làm trái tự nhiên, quý vị đã gây ra sự mất cân bằng hài hoà của mọi sinh vật của thiên nhiên - Dĩ nhiên là những rau trái, hoa quả, lúa gạo,cá tôm sẽ tích chứa trong chúng vô số chất độc hại và khi quý vị ăn vào thì chuyên gì sẽ xảy ra? Tại sao người Âu Mỹ ngày nay bị ung thư quá nhiều và tình trạng tật bệnh này ngày càng lan tràn sang các nước Á châu, Úc châu? Tại sao tại các nước gọi là văn mệnh tiến bộ của quý vị ngày càng phát sính ra những loại bệnh lạ, bệnh nan y khủng khiếp? Tất cả chính là do con người ngày càng mê mờ, u tối vì chỉ biết chạy theo vật chất lợi, nhuận mà thôi…vì thế họ luôn gây hại cho môi trường sống, họ luôn làm mất cân bằng thiên thiên, không sống hòa với thiên nhiên, đúng luật thiên nhiên…

Sự mất cân bằng trong thiên nhiên còn thấy rõ khi hàng ngày những chất độc hại từ các nhà máy, từ các lò luyện, từ tàu hỏa, xe hơi lan toả khắp không khí - Các chất độc từ các chất phế thải chôn vào lòng đất tạo ra điều mà quý vị gọi là Ô nhiễm môi trường khiến quả đất phải chịu hậu quả nguy hiểm - không những tai hoạ cho bầu khí quyển, đất đai, cây cối mà cả nước cũng bị ô nhiễm - Rồi sự đào sông, xẻ núi, đốn cây rừng, khai phá các hầm mỏ, rút hết các tinh túy của lòng đất v…v….Loài người đã tàn phá quả đất một cách nghiệt ngã, không nương tay cơ hồ như làm cho quả đất rỗng đi trong khi trên mặt đất thì lại xây dựng các công trình to lớn nặng nề - Nếu quý vị có chút suy nghĩ phân tích một cách đơn giản thì rõ rang loài người hiện nay đang làm cho quả đất mất cân bằng – Làm sao trong tình trạng ấy mà những đường nứt nơi lòng đất ngày càng không nở toạt ra và làm sao không xảy ra những sóng thần, động đất khủng khiếp???

Hỏi: Chúng tôi thấy quý vị canh tác trồng trọt rất đơn sơ – như vậy làm sao có đủ thực phẩm để dùng và tại sao không thấy quý vị tích trữ lương thực để phòng khi đói rét nguy hiểm??
Trả lời: Con người thường bị cái tham lam làm cho mù quáng, vì tham lam mà sinh ra chiến tranh, vì tham lam mà sinh ra thù hận. Trong bộ tộc chúng tôi ai cũng ăn ngày 3 bữa và cũng không quan tâm tới vấn đề ăn uống. Chim chóc bay nhởn nhơ không khổ nhọc vì cái ăn, chúng đâu cần gieo hạt, bón cây mà vẫn không bị chết đói – vì thiên nhiên đã lo liệu đủ cho chúng rồi – Chúng tôi nghĩ rằng “Thiên nhiên đã lo liệu đầy đủ cho mọi loài thì cứ yên tâm mà sinh sống”. Chúng tôi biết cách tạo ra lắm hoa màu cây trái nhưng dễ làm lệch lạc sự cân bằng của tự nhiên. Vì thế chúng tôi chỉ canh tác theo lối đơn giản và hái trái cây trong rừng như thuở xa xưa – tuy mộc mạc đơn sơ nhưng tâm hồn thanh thản – chúng tôi tạo thức ăn trong an bình – về câu hỏi: Tại sao chúng tôi không lo để dành, tích trữ thực phẩm - Vì làm như thế tức là tạo ra sự tham lam mù quáng muốn chiếm đoạt – đó là khởi phát của chiến tranh, xâu xé, đó là mầm mống của trộm cắp giết người… Chúng ta hiếm khi thấy thú vật chim muông tang trữ thức ăn cho chúng. Sự dư thừa thường làm rối loạn trật tự thiên nhiên. Ðiều thấy rõ là khi mình chiếm hữu nhiều cho mình thì người khác và sinh vật khác sẽ bị thiếu hụt – Như vậy là không công bằng, là vi phạm luật tự nhiên và khiến thiên nhiên mất cân bằng… Do đo phương châm nuôi dưỡng từ tổ tiên chúng tôi đến may vẫn luôn sống vừa đủ - không có sự dư thừa… là vậy.

Hỏi: Xin hỏi là khi không ăn thịt cá, nghĩa là bất cứ loài động vật lớn nhỏ nào có phải là quý vị bị ảnh hưởng bởi tôn giáo nào đó không? Theo quý vị thì chỉ ăn độc nhất rau trái có lợi như thế nào?
Trả lời: Như đã trình bày từ trước, tổ tiên chúng tôi xuất hiện trên quả đất này rất xưa, xưa hơn tổ tiên quý vị rất nhiều. Sự xuất hiện các tôn giáo mà quý vị thấy hiện nay trên thế giới, chỉ xuất hiện sau khi loài người đã quá dã man độc ác. Còn tổ tiên chúng tôi thì đã sống theo sự an lành thiện tâm giúp đỡ mọi loài từ đó tới nay như chuyện tự nhiên của thiên nhiên – Chúng tôi không bị lệ thuộc vào tôn giáo nào cả. Con người vốn đã có sẵn thiện tâm, lòng tốt khi mới sinh ra. Chính vì tham lam mê mờ, ganh đua ganh ghét mà sinh ra chống đối nhau, xâu xé, giành giựt nhau dẫn tới chiến tranh. Loài người hiện nay đang đắm chìm trong các u tối đó. Chúng tôi thì không. Chúng tôi không săn bắn, không đánh cá nên không giết hại sinh vật nào chúng sống hòa đồng với chúng tôi như quý vị nuôi chó mèo vậy. Quả đất là nơi sinh sống của mọi loài - Tại sao loài người lại bắt, giết, ăn thịt các loài khác. Mọi loài sinh vật đều biết đau đớn. Tại sao ta lại ăn “cái đang đau khổ"? Ăn cái đau khổ thì cơ thể ta sẽ bị gì? Còn vấn đề chỉ ăn rau trái, quý vị hỏi là có lợi như thế nào thì xin trả lời rằng: Trong cay trái rau cỏ có nhiều thứ mang lại sức khoẻ tốt lành cho con người. Nhiều chất quý trong cây khi vào cơ thể sẽ giúp cơ thể có khả năng chống lại các độc tố gây bệnh. Nhiều khi gặp trở ngại trên đường đi hay lạc lối trong rừng sâu không có thức ăn chúng tôi có thể ngậm vài lá cây nào đó để bồi bổ cơ thể. Một trong các môn học của mọi người trong bộ tộc chúng tôi là cây cỏ vì chúng tôi sống gần gủi với cây cỏ nhiều hơn cả.

Hỏi: Quý vị vừa cho biết về môn học cây cỏ, vậy nơi đây trường ốc ra sao, công việc giảng dạy tiến hành như thế nào? Xin cho biết?
Trả lời: Chúng tôi giảng dạy cho con trẻ từ tấm bé về nhiều lãnh vực, như cách ăn uống cũng phải dạy - ví dụ khi ăn phải tập nhai kỷ, phải từ tốn, ngẩm nghĩ, chú tâm, phải đưa tư tưởng vào việc đang ăn. Tránh vừa ăn vừa nói, không được vừa ăn vừa nghĩ ngợi tới vấn đề nào khác… Môn học danh riêng cho thanh niên khi tới tuổi hai mươi là quan trọng hơn cả và khó khăn hơn cả. Tới độ tuổi này, người thanh niên trong bộ tộc được gởi tới một túp lều tranh hay một hang đá. Nơi đây vị trưởng lão sẽ chỉ dẫn phương cách học tập. Phải nói đây là phương cách tu tập để trở thành một người Kogi hoàn thiện có năng lực, biết sống và biết suy nghĩ thế nào cho hợp cách. Người thanh niên sẽ ngồi xếp bàn quay mặt vào vách để từ đó họ ngẩm nghĩ suy tưởng về con người mình, về thế giới tự nhiên, nghĩa là sư liên kết, ràng buộc, giửa con người và thiên nhiên giữa con người và cây cỏ, thú vật, ngày đêm, đất đai, rừng núi, sự kiên trì là điều cốt lõi và thời gian sẽ đánh giá được sự kiên trì. Do đó mà thời gian người thanh niên ngồi quay mặt vào trong nơi túp lều hay vách đá phải là 9 năm. Chín năm suy ngẩm nhiều vấn đề và cũng là thời gian để bản thân con người mình và thiên nhiên liên kết gần gũi nhau, biết rõ nhau, trở thành hợp nhất. Khi an trú ở một nơi hiu quạnh vắng vẻ như thế để tự suy gẩm, khám phá bản thân mình và khám phá thiên nhiên, người thanh niên này sẽ ăn rất ít và khi tu tập, họ chỉ ngậm vài lá cây, uống chút nước để giữ cho cơ thể đựơc an bình mà thôi. Thường thì vị trưởng lão sẽ đến giảng dạy theo một giờ nhất định nào đó. Vị nay sẽ hưởng dẫn người học trò về những điều gọi là bí mật của vũ trụ tự nhiên, về tâm thức về ý thức và hành động của chính bản thân mình. Sau 9 năm tu tập xét mình xét thiên nhiên như thế với thế ngồi "diện bích” (nhìn vô vách).
Khi người thanh niên bước vào tuổi 30, lúc đó họ đã trở thành một con người chửng chạc có khả năng “giao cảm với vũ trụ thiên nhiên”. Chính nhờ vậy mà dù sống nơi núi cao đầy sương và mây mù, dù trong rừng thẩm thâm u của rừng dày Nam Mỹ, họ vẫn biết được những gì đã và sẽ xảy ra trên thế giới. Ðây chính là câu trả lời vì sao chúng tôi sống nơi tận cùng mù mịt của địa cầu mà lại có thể biết những gì xảy ra ở bên ngoài như đã từng trình bày trong những lần giải thích cho quý vị về tình trạng bất an, đen tối, đầy nguy hiểm mà loài người đang gây ra trên thế giới...

Hỏi: Quý vị quan niệm hay biết rõ về vũ trụ như thế nào? ....
Trả lời: Sống hòa hợp với vũ trụ, thấm nhập vũ trụ vào với tâm thức mình thì ta sẽ thấu triệt, hiểu rõ được nhiều thứ trong đời sống. Lý do vũ trụ như là một tấm gương soi vĩ đại, từ đó phản ảnh mọi sự mọi việc, nên khi ta hoà nhập vào với vũ trụ là ta biết rõ những điều đã và sẽ xảy ra. Vì mình và vũ trụ là một nên khi biết rõ mình tức là biết rõ vũ trụ, tự nhiên. Mà biết rõ vũ trụ tức là biết rõ các định luật của thế giới tự nhiên, trong đó có ta, các loài sinh vật nghĩa là tất cả Và khi đã hiểu rõ các định luật ấy rồi thì ta sẽ không bao giờ dám làm điều gì, dám nghĩ điều gì vượt ra ngoài hay trái ngược với các định luật ấy. Vì nếu làm trái với thiên nhiên là sẽ bị đào thải bị tận diệt.
Còn ý niệm về vũ trụ thì nhờ tĩnh tâm giao cảm với vũ trụ mà chúng tôi biết lúc vũ trụ chưa hình thành là một khoảng trống không - Cái trống không vô tận ấy chính là Mẹ Vũ trụ mà chúng tôi gọi là Kaluma. Mẹ Vũ trụ là một trạng thái tuyệt đối của Tâm thức - Mẹ vũ trụ không phải là đấng tạo hóa như loài người nghĩ. Chính nhờ cái tâm thức tan toả này mà phát sinh ra tư tưởng - Nhờ sự vận hành chuyển hoá của tư tưởng mà phát sinh ra tất cả mọi thứ như ta thâý ngày nay - Ðiều này mới nghe qua thì quá mơ hồ trừu tượng – Chỉ khi nào quý vị áp dụng phương thức suy gẩm như lối ngồi vào vách trong thời gian 9 năm thì khi đó tâm thức quý vị mới dễ hoà vào tâm thức vũ trụ - Lúc đó quý vị mới thấy rõ những gì tôi vừa trình bày. Như vậy cái Tâm là rất quan trọng - Mọi thứ đều do tâm tạo. Nhờ phương thức tĩnh tâm để giao cảm với vũ trụ mà chúng tôi biết trong vùng không gian của chúng ta thôi là có 9 thế giới phát sinh từ tâm thức - Mọi thứ nơi 9 thế giới ấy đều có cùng quy luật là sinh ra lớn lên, phát triển rồi chết. Những quy luật ấy còn có những chi tiết mà nếu loài người tự cho là văn minh tiến bộ tìm cách phá vỡ các quy luật thì hậu quả lại rất tai hại. Loài người hiện đang sinh sống nơi thế giới thứ 9. Ðiều quan trọng cần nhớ là thế giới này không phải dành riêng cho loài người mà còn cho mọi sinh vật – Vì thế đánh, bắt, giết hay ăn thịt các sinh vật tức là vi phạm quy luật tự nhiên. Nói về sự vi phạm quy luật tự nhiên thì thật ra loài người đã hành động trái với luật tự nhiên từ lâu rồi...
Hỏi: Theo quý vị thì loài người hiện nay đã hành động trái với luật tự nhiên như thế nào??

Trả lời: Buổi gặp gỡ 3 ngày tại bộ tộc chúng tôi chính là mục đích để nói lên cái sai lầm của loài người hiện nay, cái nguy cơ tai hại mà loài người đã gây ra – Nói rõ hơn là loài người từ lâu đã làm trái với định luật thiên nhiên, gây tai họa không những cho trái đất mà còn cho cả chính họ. Con người cứ mê mờ khi nghĩ rằng mình có khả năng cải tạo thiên nhiên, cải tạo cuộc sống – Con người ngày càng văn minh tiến bộ với những máy móc tuyệt hảo tinh vi – Nhưng quả thật ý tưởng đó quá sai lầm vì khả năng con người dù thông minh tài giỏi tới đâu vẫn không thể thay đổi quy luật của tự nhiên cũng như chế ngự đưọc cơn thịnh nộ của thiên nhiên – Con người không thể ngăn cản sóng thần, bão tố, động đất, lũ lụt và nhất là dịch bện và sự chết. Càng ngày con người càng có cảm tưởng rằng mình có khả năng chế ngự được thiên nhiên và thực hiện được những gì mà con người muốn như đẩy lùi bệnh tật, tạo sinh ra sinh vật mới ngay trong phòng thí nghiệm, kéo dài tuổi thọ, làm mưa nhân tạo - chế tạo những vũ khí giết người tinh vi siêu đẳng và nhất là vũ khí hóa học, vi trùng ... Và những cuộc thí nghiệm nổ bom hạt nhân... Nhưng con người không biết rằng: khi đẩy lùi bệnh tật thì lại làm phát sinh ra những loại vi trùng hay dộc tố mới và tạo ra thứ bệnh mới khác. Khi chế tạo vũ khí sinh học, hóa học thì ngay lúc đang thí nghiệm cũng đã đưa vào không khí mầm bệnh độc hại rồi, từ đó mới có những bệnh lạ phát sinh ở người và loài vật. Khi làm thay đổi thế giới tụ nhiên là làm xáo trộn quy luật của sự sống... Thuốc ngừa thai, sự tạo sinh sinh vật mới, thuốc tăng cường sức khoẻ, chống ung thư, ngăn chận lão hoá đều trái luật tự nhiên... Hậu quả sẽ tàn phá đời sống tự nhiên của con người và mọi sinh vật. Quả đất là nơi loài người sinh sống, mọi loài cư trú và phát triển nhưng hằng ngày con người vô ý thức tàn phá đất đai, cây cối, thú vật một cách mù quáng. Thế giới văn minh của quý vị dùng thuốc khai quang, diệt cỏ dại, thuốc trừ sâu rầy, thuốc làm sự phát triển của gia súc và hoa màu - Những thứ thuốc ấy đều là những chất độc hại, chúng ngấm vào đất đai, biển cả, sông ngòi đều chất chứa vô số chất phế thải độc hại, con người, các động vật và nhất là các loài thủy sản đã đưa vào cơ thể biết bao chất độc từ nước. Riêng không khí thì rõ ràng ngày nay đang tràn ngập các độc chất gây ô nhiễm trầm trọng ... Tất cả sẽ là nguyên nhân gây nên vô số thảm họa đến với loài người mà bệnh ung thư và bệnh lạ ngày càng phát triển lan tràn khắp thế giới đồng thời với những thay đổi lệch lạc về khí hậu, đất đai, môi trường cũng chính do loài người gây ra làm phát sinh những biến động từ thiên nhiên như sóng thần, lụt lội, đất khọ cằn, hạn hán, động đất và sau cùng là quả đất sẽ bị hủy hoại và nạn diệt vong đến vời mọi loài sinh vật dĩ nhiên là gồm cả loài người sẽ xảy ra không lâu. Ðiều tệ hại hơn nữa là khi con người phát sinh phát triển tới nay có lúc nào là không có sự tranh giành tàn sát lẫn nhau, không lú nào là không có hận thù. Không những thế, nhiều quốc gia tân tiến muốn trở thành bá chủ đã không ngừng phát triển các loại máy móc, kỷ thuật tân kỳ, một mặt thì thăng tiến cuộc sống trong giả tạo nhưng đồng thời lại tận dụng những chất rất nguy hiểm mà về lâu về dài sẽ ảnh hưởng lên cơ thể gây ung thư. Các quốc gia giàu có với kỷ nghệ phát triển hiện nay biết rõ sự tai hại của các chất kỷ nghệ độc hại nên đã lợi dụng danh nghĩa toàn cầu thương mãi đã nhắm vào các nước nghèo để tới đó mở mang phát triển kỷ nghệ vừa được nhân công rẽ vừa có chỗ thải bỏ các chất độc. Làm như vậy ngầm mục đích là nếu có xảy ra nguy cơ nào phát sinh từ các chất thải bỏ độc hại ấy thì chỉ đất nước ấy gánh chịu mà thôi chớ không ảnh hưởng tới đất nước của họ. Quý vị hãy tưởng tượng rồi đây các quốc gia nghèo đói và yếu kém sẽ ra sao khi họ hoan hỉ để các công ty nước ngoài thuê đất đai và xây dựng lên những nhà máy đồ sộ. Tại đó sẽ sản xuất vô số mặt hàng mà vật liệu là những thứ mà hiếm ai biết được chôn vào đất đaihay trôi chảy vào sông lạch... Kết quả là quốc gia đó sẽ bị hậu quả tàn hại nặng nề vì không khí, sông ngòi, hồ ao và đất đai cây cối sẽ tràn ngập đủ các chất ô nhiễm mà chính quyền không biết. Từ đó trong dân chúng sẽ phát sinh vô số chứng bệnh lạ và hậu quả lâu dài là ảnh hưởng tới các yếu tố di truyền của cả dân tộc.

Loài người vẫn tự hào là mình văn minh mà không biết cái văn minh của mình là con dao hai lưỡi tàn hại toàn thể nhân loại. Ðã đến lúc loài người nên thức tỉnh. Ðó chính là lời kêu gọi thiết tha của chúng tôi nhắn gởi nhờ quý vị trao lại cho loài người hiện nay. Mong quý vị gởi ngay thông điệp này đến thế giới càng sớm càng tốt nếu không thì quá muộn.

Hỏi: Qua cuộc gặp gỡ đặc biệt này, quý vị có điều gì cần cho chúng tôi biết thêm không?
Trả Lời: Chúng tôi xin nhắc lại là sở dĩ có sự đồng ý tiếp xúc với quý ông trong ba ngày là vì muốn chuyển một thông điệp cho những người mà chúng tôi nghĩ là những người em trong gia đình nhân loại.
Như trên chúng tôi đã trình bày. Ngày nay loài người đang tự đào hố chôn mình – Càng văn minh, con người càng lầm lạc, mê mờ. Càng văn minh, con người càng làm trái với luật của thế giới tự nhiên. Càng ngày con người càng tham lam. Mà càng tham lam thì càng chia rẽ, hận thù nên bạo lực, chiến tranh khủng bố luôn diễn ra mà kết quả không tránh được là thế giới chiến tranh lần thứ ba sẽ phải xảy ra – Nhưng chiến tranh lần này quả là khốc liệt và bi thảm – Lý do là cả kẻ hận thù và người bị hận thù đều bị tiêu diệt, thế giới lại đi vào giai đoạn của hổn mang, một giai đoạn xuất hiện trong vũ trụ cách đây hằng tỉ năm...
Một lần nữa, chúng tôi tha thiết yêu cầu quý vị hãy mang thông điệp này đến cho thế giới bên ngoài để loài người văn minh tiến bộ hiện nay thức tỉnh... nếu không thì sẽ quá muộn...

GHI CHÚ: Trong tập tài liệu ghi chú của phái đoàn báo chí có ghi thêm về câu hỏi của một nhà báo rằng tại sao sống ở một nơi có thể nói là biệt lập với thế giới văn minh sôi động bên ngoài mà những người Kogi lại có thể biết được quá nhiều những gì mà ngay những người sống hiện nay ở những thành phố lớn cũng chưa chắc biết hết được thì được vị đại diện bộ tộc trả lời rằng: mọi sinh vật kể cả cây cối, động vật và con người đều có sự liên hệ ràng buộc mật thiết với nhau qua nhiều hình thức như cái mà quý vị thường gọi là từ trường, là hào quang, là tâm linh, năng lực tinh thần vân...vân.... Tuy nhiên không ai nghĩ và biết điều đó... vì con người sống ở những vùng đất gọi là văn minh tiến bộ bị chi phối bởi vô số công việc phải làm mới mong đáp ứng nổi những nhu cầu “vật chất” mà họ ham muốn được có. Khi vật chất lấn áp đé nén bao trùm toàn bộ cuộc sống tâm linh gần như bị lu mờ, che lấp... Chỉ ngoại trừ những nhà tu hành, thiền quán hay tĩnh tâm...mới có khả năng nhận biết. Con người có thể nhận biết những gì xảy ra ở khoảng cách xa qua thần giao cách cảm hay qua tập trung tư tưởng... Mọi người trong bộ tộc chúng tôi tới tuổi trưởng thành đã biết tập trung rèn luyện phát triển mặt tâm linh trong 9 năm tỉnh tâm suy ngẩm đã giúp họ: “Giao cảm với thiên nhiên, vũ trụ” từ đó mà biết được những gì xảy ra chung quanh, ở những nơi mà họ chưa hề đặt chân tới...

Khi học hỏi về cây cối thì người Kogi được giảng dạy ghi khắc trong lòng là phải biết quý trọng cây cối. Ngay cả đám cỏ cũng tôn quý nó. Nhờ cây mà ta có bóng mát, nhờ cây mà gió lớn bị ngăn chận, lũ lụt không lan tràn, cây cỏ là thức ăn bổ dưỡng và là thuốc chữa bệnh của con người. Biết rõ điều đó, ta không bẽ cành, chặt cây, phá hoại cây rừng. Cây cối và con người liên quan mật thiết với nhau – Phá hoại, hủy diệt cây cối là làm mất cân bắng thiên nhiên và sẽ dẫn tới sự mất cân bằng trong cơ thể.

Thông điệp mà người bộ tộc Kogi gởi cho thế giới bên ngoài đã được phái đoàn của ký giả Alan Ereira (phóng viên của đài BBC) mang tới Ðại hội Tôn Giáo Toàn Cầu (tổ chức tại Chicago – Hoa Kỳ) tháng 10 năm 1993 - tại đây ký giả Ereira đã trình bày tất cả những gì mà người bộ tộc Kogi đã nhắn gởi cùng với những hình ảnh lạ lùng hiếm có do đài truyền hình BBC và PBS trình chiếu tại Ðại hội. Buổi tường trình đặc biệt lạ lùng này đã gây nên một chấn động mạnh không những toàn thể đại hội mà còn cả thế giới. (Bài viết này chúng tôi viết tổng hợp qua nhiếu tư liệu – quý vị muốn biết sự kiện này rõ hơn xin đọc Elder Brother’s Warning của ký giả Alan Ereira hay bài dịch của Nguyên Phong đang tải trên báo Viên Giác Ðức quốc .

(Ðặc san Xuân – 1995)
Hết.

thay đổi nội dung bởi: dung9610, 10-01-2008 lúc 2:24 pm. Lý do: lỗi chính tả
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 14 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
admin (12-01-2008), cheznous (13-11-2017), Happy (15-05-2009), hugeoceans (28-02-2012), lan_nguyen (19-01-2008), Lilan (05-05-2009), macvophong (14-10-2009), melvanchon (17-06-2009), nguyetanh (16-02-2009), nhandien (05-08-2008), tuaangs (11-01-2008), vannam (09-10-2012), VoDanh (17-01-2008), wdan801 (12-09-2014)
Quyển sách:CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG THỜI ĐẠI HẠ NGUYÊN
Old 12-01-2008, 8:33 am  
dung9610
Senior Member
 

Arrow Quyển sách:CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG THỜI ĐẠI HẠ NGUYÊN
Quyển sách:CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG THỜI ĐẠI HẠ NGUYÊN
Do tác giả Đoàn Văn Thông biên soạn phát hành năm 2006.

Mời Quý bằng hữu xem tại địa chỉ http://www.quangduc.com/thoidai/89hanguon.html

thay đổi nội dung bởi: admin, 12-01-2008 lúc 8:43 am.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 6 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
admin (12-01-2008), cheznous (05-07-2010), Happy (15-05-2009), liem0962 (14-06-2010), tuanngan (25-04-2008), VoDanh (17-01-2008)
Quyển sách: CÁC BẬC CHÂN SƯ YOGI ẤN ĐỘ
Old 17-01-2008, 4:31 pm  
dung9610
Senior Member
 

Arrow Quyển sách: CÁC BẬC CHÂN SƯ YOGI ẤN ĐỘ
CÁC BẬC CHÂN SƯ YOGI ẤN ĐỘ

Trích đoạn : "Quyển Hồi Ký này của tu sĩ Yogananda có một giá trị độc đáo vì nó là một trong những tác phẩm nói về các bậc thánh nhân, hiền triết Ấn Độ, không phải được viết ra bởi một ký giả hay văn sĩ ngoại quốc, mà bởi một tác giả nòi giống và cùng một nền giáo dục tâm linh với những người mà ông diễn tả.Nói tóm lại, đây là một quyển sách của một người Yogi viết về những người Yogi.
Dưới hình thức một truyện trường thuật của một nhân vật, tiết lộ cho chúng ta biết cuộc đời và những quyền năng lạ lùng của những bậc hiền giả của xứ Ấn.
Quyển sách này có một tầm quan trọng rất lớn trong thời gian và ngoài không gian..."
File Kèm Theo
File Type: doc -CÁC BẬC CHÂN SƯ YOGI ẤN ĐỘ(Sri Yogananda).doc (731,0 KB, 1733 lần tải)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
tuanngan (25-04-2008), tuanvu_quynh1949 (01-05-2009), VoDanh (17-01-2008)
Những bí ẩn về tiền kiếp và hậu kiếp
Old 18-01-2008, 3:16 pm  
dung9610
Senior Member
 

Question Những bí ẩn về tiền kiếp và hậu kiếp
Trích đoạn:
"...Con người là một con vật biết suy nghĩ, biết tư duy; Vì thế, dù bận rộn với bao khó khăn trở ngại trong cuộc sống; dù tin tưởng vào tôn giáo này hay tôn giáo khác, hoặc vô thần đi nữa, con người cũng phải ít nhất một lần trong đời đặt câu hỏi rằng: Tại sao mình lại sinh ra ? Tại sao con người lại đau khổ ? Tại sao trên cõi đời này lại có kẻ giàu người nghèo, và đôi khi sự giàu có không phải là do công lao khó nhọc tạo thành, mà là do những hành động gian tham, tàn ác tạo nên. Ðiều khó giải thích hơn nữa là tại sao kẻ ác đôi khi lại được trường thọ, hạnh phúc, sang giàu, còn người thiện lương, hay giúp đời, cứu người mà thường gặp nạn, khổ đau, nghèo nàn hay yểu mệnh? Lại có kẻ mới chào đời đã mang dị tật, hoặc đui, mù, câm, điếc, bại, liệt, thiếu hụt tay chân v.v... Nguyên nhân nào đã sinh những trường hợp lạ lùng và vô cùng trái ngược như thế ? Nếu loài người được Thượng Ðế toàn năng sáng tạo, thì tại sao Ngài lại thản nhiên trước những bất công vô lý ấy ?

Tất cả những câu hỏi nêu trên, có lẽ sẽ được lý giải phần nào qua sự tìm hiểu, nghiên cứu và nhận định, soi sáng của các nhà nghiên cứu lỗi lạc về những hiện tượng luân hồi, tái sanh, nghiệp quả. Những nhà nghiên cứu này phần lớn là những khoa học gia, những người được xem như đã mạnh dạn bước qua ngưỡng cửa giới hạn của khoa học thực nghiệm để tiến vào thế giới tâm linh có tánh cách siêu nhiên kỳ diệu .....

****** Xin mời các bạn đọc những câu chuyện có thật dưới đây để hiểu rõ thêm về luân hồi, nhân quả, và tiền kiếp... hậu kiếp..."
File Kèm Theo
File Type: doc - Những Bí Ẩn Về Tiền Kiếp(Đoàn Văn Thông).doc (183,0 KB, 1681 lần tải)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 5 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
Lilan (05-05-2009), macvophong (25-09-2009), tuanngan (25-04-2008), tuanvu_quynh1949 (01-05-2009), VoDanh (18-01-2008)
Hồi ký :AI CẬP HUYỀN BÍ(Paul Brunton)
Old 22-01-2008, 4:41 pm  
dung9610
Senior Member
 

Default Hồi ký :AI CẬP HUYỀN BÍ(Paul Brunton)
…….Dưới cặp mắt tôi, là cặp mắt đã từng quan sát tỉ mỉ cõi giới siêu linh, những điều huyền bí thuộc cõi siêu hình, và sưu tầm cặn kẽ khoa pháp môn phù thủy của phương Đông, thì gian phòng rộng rãi của Vương Cung lúc ấy có sự hiện diện của những nhân vật vô hình, và những vị Thần linh có nhiệm vụ canh gác ngôi kiến trúc thâm nghiêm này. Dường như một gọng nói từ cõi u minh sắp sửa thốt lên bất cứ lúc nào để phá tan cái im lặng bao la này. Tôi đã từng quen thuộc với sự cô đơn, và tôi rất thích sống trong cô đơn, nhưng sự cô quạnh của gian phòng này có một cái gì nguy hiểm và rùng rợn đáng sợ.

……..Tôi chỉ biết rằng khi tôi tự điều chỉnh bằng phương pháp hồi quan phản chiếu mà tôi được truyền thụ từ lâu trước chuyến du hành lần hai sang Ai Cập, tôi nhận biết được rằng có những mãnh lực bất hảo đã xâm chiếm gian phòng, có một cái gì tiến lại gần tôi mà tôi cảm thấy là nguy hiểm. Một sự sợ hãi làm rung chuyển tâm hồn tôi. Tôi cố xua đuổi đi thì nó lại trở lại từng hồi. Tôi cố gắng áp dụng phương pháp hồi quan phảng chiếu một cách ráo riết hơn nữa sự nhạy cảm càng tăng theo cái đà thường lệ của nó và biến thành một linh ảnh. Những hình bóng lởn vởn chập chờn vô định trong gian phòng, lần lần chúng nó hiện ra với những hình thù rõ rệt hơn, đột nhiên có những vong linh hung ác xuất hiện và xáp lại gần kề bên gương mặt tôi. Kế đó, một vật đen ngòm tiến lại gần tôi với một cái nhìn dữ tợn và đưa tay lên với một cử chỉ hăm dọa, như muốn gây cho tôi một sự kiêng nể pha lẫn với sự kinh hoàng.

Những vong linh mà người ta không thể lường được tuổi từ bao nhiêu đời, dường như đã kéo nhau lại đó từ cái nghĩa địa gần bên, một cái nghĩa địa cổ xưa đến nỗi những xác ướp quật lên liền tan ra thành tro bụi trong những chiếc hòm bằng đá. Chính những vong hồn còn bám víu xác ướp cổ lổ này, đã xuất hiện một cách hung dữ trong gian phòng của tôi. Tất cả những chuyện huyền thoại về những ma quái lởn vởn ở vòng chung quanh Kim Tự Tháp đã trở lại trong ký ức của tôi, với những chi tiết rùng rợn …

………Cả một đoàn ma quái thù nghịch vây phủ lấy tôi. Tôi có thể giải vây được dễ dàng bằng cách bật đèn bấm hoặc đốt đuốc lên, hoặc đứng lên để thoát mau ra khỏi phòng và chạy một quảng độ vài ba trăm bộ đến cổng ngoài, tại đó người gác cổng có võ trang có thể đem đến cho tôi một sự tăng viện đáng kể. Cơn thử thách bắt tôi phải chịu một hình thức tế nhị của sự cực hình, nó khuấy phá linh hồn tôi, trong khi thể xác tôi vẫn nguyên vẹn. Nhưng đồng thời trong tôi cũng có một sự thúc đẩy mạnh mẽ buộc tôi phải vượt qua giai đoạn thử thách ấy cho đến cùng.

Sau cùng giai đoạn quyết liệt đã đến. Những loài yêu quái hình thù ghê rợn, gớm ghiếc, không thể tả nỗi mà chỉ có ở cõi Âm Ty, những loài ma quỷhình dung cổ quái, dị hợm, điên rồ, rùng rợn, quái đản, từ đâu kéo đến thật đông chung quanh tôi, sự ghê tởm mà chúng nó gây cho tôi làm cho tôi chảy qua một cơn đau khổ không thể tưởng tượng! Trong vài phúc đồng hồ, tôi đã trải qua những cơn xúc động mà kể từ đó về sau tôi không thể nào quên được. Cái cảnh tượng độc đáo ấy đã được khắc trong ký ức của tôi bằng những nét sâu đậm không thể xóa mơ. Kể từ nay, bất cứ giá nào ở cõi trần gian này tôi sẽ không bao giờ muốn tái diễn cái kinh nghiệm khủng khiếp như đêm nay; tôi sẽ không bao giờ ở lại một đêm nữa trong Kim Tự Tháp.

Cảnh tượng ấy chấm dứt đột ngột lạ thường. Những loài yêu ma, quỷquái biến mất dạng trong bóng tối mà từ đó chúng đã xuất hiện ra; chúng trở về cõi U Minh của những người đã chết, đem theo luôn với chúng tất cả những sự gớm ghiếc, ghê tởm và rùng rợn. Thần kinh của tôi hầu như bị bẻ gãy hết nữa phần, đã cảm giác được một sự thoải mái dễ chịu lớn lao chẳng khác nào như một lính chiến ngoài mặt trận khi cơn oanh tạc dữ dội đột nhiên chấm dứt.
....

thay đổi nội dung bởi: dung9610, 15-02-2008 lúc 2:03 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
ltduy001 (10-05-2008), tuanngan (25-04-2008), tuanvu_quynh1949 (01-05-2009), VoDanh (02-06-2008)
Những chuyện Luân hồi hiện đại
Old 09-05-2008, 4:43 pm  
dung9610
Senior Member
 

Default Những chuyện Luân hồi hiện đại
Trích Đoạn :

....Giáo Sư Sylvia Cranston là một chuyên gia khảo cứu về luân hồi từ 30 năm nay. Bà là tác giả của các cuốn sách nổi tiếng về luân hồi như An East-West Anthology, Reincarnation in World Thought, Phoenix Fire Mystery...
Bà đã từng đi diễn giảng tại Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Anh, Ái Nhĩ Lan và đã xuất hiện nhiều lần trên các đài vô tuyến truyền thanh truyền hình.
Giáo Sư Carey Williams, người Hoa Kỳ, chuyên dạy Y Tế, phụ trách nhiều lớp giảng dạy về sự sống chết của con người.
Chúng tôi xin trích dịch một vài chuyện trong cuốn Reincarnation, A New Horizon In Science, Religion and Society của hai tác giả do nhà Xuất Bản Julian Press, New York, phát hành năm 1984....

thay đổi nội dung bởi: dung9610, 16-05-2008 lúc 2:54 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
Lilan (05-05-2009), macvophong (25-09-2009), tuanvu_quynh1949 (01-05-2009)
Old 15-05-2008, 9:52 pm  
chanhtam
Senior Member
 
chanhtam's Avatar
 

Default
Tôi đã đọc bài :"Thông Điệp ................" do bạn gởi thấy rất hay,xin cảm ơn bạn
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến chanhtam vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (06-05-2010), macvophong (21-02-2011)
Bài học ngàn vàng
Old 30-04-2009, 5:00 pm  
dung9610
Senior Member
 

Default Bài học ngàn vàng
BÀI HỌC NGÀN VÀNG



ÔNG GIÀ BÁN BÀI HỌC NGÀN VÀNG

Ngày xưa, xưa lắm, ở vùng Tân Cương thuộc Trung Á, có một nước nằm giữa biên giớì Trung và Ấn Ðộ, gọi là Nhục Chi. Tuy là một tiểu quốc, nằm giữa hai đại cường quốc, nhưng Nhục Chi là một nước có một nền văn hóa tiến bộ và một nền kinh tế phồn thịnh. Kinh đô Nhục Chi nằm trên sườn núi lớn, cảnh trí rất đẹp, kiến trúc tân kỳ. Hoàng cung và đền đài nằm trên một vị trí cao nhất, rồi đến bộ viện, dinh thự của các công hầu khanh tướng, phía dưới chân núi là nhà dân chúng và phố phường buôn bán tấp nập quanh năm. Chính ở đây có một cái chợ lớn nhất. Cứ năm ngày lại có một phiên chợ, dân chúng từ các vùng lân cận đem hàng hóa vật thực thổ sản đến đây đổi lấy những vật dụng cần thiết. Hàng hóa không thiếu một thứ gì, từ ngũ cốc heo gà trâu bò đến hàng lụa, vải bô, quần áo; từ cày bừa, cuốc xuổng cho đến vàng bạc phấn son; từ trà rượu thuốc men cho đến hương hoa bánh trái ... người nào muốn cần thứ gì thì có thứ ấy. Ngoài ra còn có những khu dành riêng cho các cuộc giải trí: ca hát, ăn chơi, cờ bạc, ruợu chè. Chính ở đây là nơi phức tạp nhất, tụ tập đủ hạng người: nào Kinh, nào Thượng; nào giàu sang, nào nghèo đói, nào hảo hán giang hồ, nào lưu manh trộm cướp; nào văn chương nho nhã, nào vũ phu côn đồ ...

Hôm nay cũng như mọi ngày phiên chợ khác, người mua kẻ bán đông đảo tấp nập chen chúc khắp nơi. Nhưng đặc biệt là ở khu giải trí, thiên hạ vây quanh một ông già rao bán một bài học ngàn vàng với giá là một ngàn lượng vàng.

Ông già vào khoảng 70 tuổi, đầu tóc bạc phơ, chít một cái khăn điều, râu trắng như cước, chảy dài xuống quá ngực, da nhăn nhưng mắt trong xanh như con nít. Ông mặc một cái áo dài xanh lam, có thêu chữ thọ lớn và một cái quần điều. Chân Ông mang giày thêu và tay chống một chiếc gậy có chạm một đầu rồng. Trên đầu rồng có treo lủng lẳng một cái đãy bằng gấm màu tía, bề dài độ một gang tay có thêu một con phượng ngậm hạt châu.

Ông lão đưa chiếc gậy lên cao cho mọi người thấy, vừa đi qua đi lại, vừa rao với giọng rất trong trẻo:

- Ai muốn giàu, ai muốn sang, ai muốn mua may bán đắt, hãy mua bài học vô giá này! Ai muốn văn hay chữ tốt, ai muốn đỗ đạt làm quan, ai muốn trở thành công hầu khanh tướng, hãy mua bài học vô giá này! Ai muốn chồng hòa vợ thuận, ai muốn gia đình êm ấm, ai muốn xóm làng kính yêu, hãy mua bài học vô giá này! Ai muốn tu nhơn tích đức, ai muốn hưởng phước về sau, hãy mua bài học vô giá này! Hãy mua mau đi! Mua mau đi kẻo tiếc về sau!

Một bà tò mò chen vào hỏi thử:
- Cụ bảo bài học vô giá thì còn biết bao nhiêu mà mua?
Ông lão trả lời:
- Bà thử trả xem, được giá thì tôi bán.
- Năm tiền nhé!
Ông lão cười phì:
- Năm tiền thì bà để mua kẹo, mua bánh cho con cháu bà ăn!
Bà lão vẫn cố nài:
- Thì Ông muốn bao nhiêu?
- Ðắt lắm, chắc bà không mua nổi đâu.
Ông lão vừa nói vừa quay đi chỗ khác, nhưng vẫn nghe được bà già rủa mình ở sau lưng:
- Ông lão khinh người quá xá! Bà mà không mua nổi, thì có quỷ sứ mới mua cho ông!

Một chàng thanh niên, ăn mặc xốc xếch, sặc mùi rưọu, chếnh choáng rẽ đám đông tiến vào vòng trong. Anh ta gọi giật ngược Ông lão:
- Ê, Ông già! Ông bán gì đó?
- Bài học vô giá, muốn làm gì thì được nấy!
- Chà, bài học hay quá ta! Sao Ông không dùng cho Ông đi?
- Lão đã dùng cho lão rồi, và dùng rất có hiệu quả.

Anh chàng say rượu cười sặc sụa trước khi nói:
- Ông đã dùng cho Ông rồi à? Sao Ông vẫn nghèo?
- Vì lão không muốn giàu!
- Sao Ông không thi đỗ làm quan?
- Vì lão không muốn thi đỗ làm quan!
- Sao Ông không có gia đình con cái hòa thuận để Ông nhờ?
- Vì lão không muốn lập gia đình!

Anh chàng say rượu cáu tiết, chồm tới hỏi:
- Cái gì Ông cũng không muốn! Ông không muốn cái gì cả thật sao?
- Lão chỉ muốn một chuyện.
- Muốn gì?

Ông già nhìn quanh, chậm rãi trả lời:
- Lão muốn bán bài học vô giá này cho người đời dùng. Lão sanh ra đời chỉ để làm công việc này thôi.

Anh chàng thanh niên bực tức trả lời:
- Thế thì Ông già điên rồi! Ai mà thèm mua bài học của Ông làm gì. Người ta mua lúa, mua gạo, mua ruộng, mua vườn, mua nhà, mua cửa, chứ ai mua bài học vô giá của Ông làm gì? Không bài học của Ông thì thiên hạ cũng ăn uống no say, vui chơi phè phỡn, tạo nhà tạo cửa, giàu sang sung sướng cả đó kìa, Ông già thấy không?

Ông già vừa xoay qua phía khác vừa trả lời:
- Nhưng nếu có bài học của lão thì thiên hạ càng giàu sang hạnh phúc hơn! Mua đi, mua đi kẻo tiếc!

Bỗng có tiếng oang oang từ ngoài vọng vào:
- Có ta đây! Ðể đó ta mua cho!

Một anh chàng lực sĩ, vai u thịt bắp, xô đẩy đám đông tiến vào. Anh ta mặc một cái áo cụt đen, không gài nút, để hở ngực hở bụng, một cái quần đen, hai ống bó túm ở phía dưới. Ngay hông có mang một đoản đao, giắt vào thắt lưng màu đỏ. Anh ta đứng chống nạnh hai tay vào hai bên hông, hất hàm hỏi Ông lão:
- Biết ta là ai không?
- Biết làm gì?

Anh chàng lực sĩ cười gằn:
- Nhu vậy thì lão ngu thật! Lão vào buôn bán ở chợ này mà không cần biết đến ta, vậy thì đời lão tàn rồi. Chợ này là giang sơn của ta. Ta muốn cho ai buôn bán ở đây thì cho, bằng không thì phải lo mà chuồn đi; nếu lôi thôi thì ta sẽ đánh bỏ mạng.

Ông lão vẫn điềm nhiên hỏi:
- Anh là Quản thị hả? Hay là chàng thâu thuế?
Chàng lực sĩ cười mũi:
- Các thứ đó mà kể làm gì? Ta ... Ta là ... đệ nhất anh chị ở cái chợ phiên này.

Ông lão phì cười, tỏ vẻ khinh bỉ:
- Tưởng là gì! Ông Thiền Thừ mười tám mắt lão còn chưa sợ, nữa là ... đệ nhất anh chị ở đây!
Anh chàng lực sĩ mặt đỏ hầm hầm, nạt:
- Lão già đừng hổn mà ăn năn không kịp!

Nói vừa dứt lời, anh ta nhảy song phi đá vào mặt Ông lão. Nhưng Ông lão đưa gậy ra đỡ nghe một tiếng "rắc", và anh chàng lực sĩ té nhào vào đám đông. Ðám khán giả reo hò tán thưởng, vì không ngờ Ông lão võ nghệ lại cao cường đến đỗi hạ một cách dễ dàng anh chàng lực sĩ quán quân ở cái chợ Kinh đô này như vậy! Chàng lực sĩ bị hạ bất ngờ, vừa xấu hổ vừa đau đớn, hùm hổ đứng đậy rút đoản đao ỏ lưng quần ra, sấn tới phía ông lão, hăm dọa:
- Thằng già này to gan thật, dám chọc giận ta nhé! Ta cho một đao mà đi đầu thai kiếp khác đây!

Chàng ta lia một nhát dao như một làn chớp ngang đầu Ông lão. Ông lão lách đầu né kịp và thuận đà tống một đạp vào bụng anh chàng lực sĩ nghe một tiếng "ực". Anh chàng té ngửa, chổng hai chân lên trời. Ông lão lẹ làng nhảy tới, chống chiếc gây lên bụng anh ta. Tiếng reo hò tán thưởng reo dậy chung quanh. Nhiều thanh niên, ông lão, bà lão, con nít định xông vào đấm đá anh chàng lực sĩ kia để trả thù sự áp bức từ lâu của anh ta trong chợ này. Nhưng Ông lão bảo mọi người dang cả ra và cúi xuống nói với anh chàng lực sĩ đang nằm thẳng cẳng dưới chiếc gậy của Ông lão:
- Con ạ! Ðừng thấy lão già mà quen thói hiếp đáp nữa nhé! Trước khi đem "Bài học ngàn vàng" đi bán, lão cũng đã tập dượt võ bị để phòng thân chứ! Lão đâu có khờ khạo dẫn xác đến đây để cho con hiếp đáp. Thôi xin lỗi đi, lão tha cho.

Anh chàng lực sĩ miệng không ngớt chửi bới Ông lão, và cố vùng vẫy để đứng dậy được. Ông già bảo:
- Lão đếm ba tiếng mà không chịu xin lỗi thì lão ấn cái gậy này xuống, người con sẽ dẹp lép như con thằn lẳn bị kẹt trong cánh cửa con ạ! Này, Một ...
Anh chàng lực sĩ cảm nghe trên bụng mình như có một quả tạ trăm cân đè xuống, đè xuống ...
Ông lão đếm tiếp: - Hai.

Chàng lực sĩ lại cảm thấy nặng thêm như cả một phiến đá to tướng, nặng ngàn cân đè lên người mình. Chàng kinh hoàng kêu lên:
- Lạy ngài, tha cho con! Con xin chịu lỗi với ngài, từ nay con không dám hổn nữa.

Ông lão nâng chiếc gậy lên. Chàng lực sĩ bỗng nghe cả thân mình nhẹ nhõm, lâng lâng. Anh ta đứng dậy lạy tạ Ông lão hai lạy, rồi xấu hổ chuồn mất.

Bỗng từ xa có tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn, tiếng quyển dìu dặt khoan thai vọng lại. Mọi người ngước nhìn rồi bảo nhau: "Hoàng thượng đi săn trở về! Lui ra, lui ra cho đoàn ngự giá đi qua".

Mọi người kính cẩn đứng nép ra hai bên. Ðoàn ngự giá từ từ tiến đến. Ði đầu là một vị Tướng oai phong lẫm liệt, ngồi trên mình ngựa bạch, tay cầm một cái bảng vàng có 4 chữ: "Ðột Quyết đại vương". Theo sau vị tướng có hai hàng vệ sĩ mang giáo mác, cung tên. Tiếp theo là một đoàn nữ nhạc sĩ ca nhi, vừa đi vừa múa hát, hòa nhạc, rất vui tai đẹp mắt. Rồi đến xa giá của vua, chạm trổ long phụng, bốn phía rèm buông trướng rũ. Sau xa giá là một đoàn lực sĩ, cứ hai người khiêng một con thú rừng vừa săn được ...

Dân chúng vừa kính cẩn, vừa sợ sệt, ngây ngất đứng nhìn ở hai bên đường. Nhưng Ông lão vẫn thản nhiên đứng nguyên chỗ cũ, vừa đưa cao chiếc gậy có treo chiếc đãy gấm, vừa rao:

- Bài học ngàn vàng! Bài học ngàn vàng! Mua mau kẻo hết!

Ðoàn vệ sĩ ra hiệu bảo Ông lão tránh ra bên đường để đoàn ngựa giá vua đi qua. Nhưng Ông lão có vẻ không lưu ý, càng rao to:

- Bài học ngàn vàng! Bài học ngàn vàng! Dịp may hiếm có, dịp may hiếm có!

Vị tướng đi đầu đưa cao tấm bảng, ra hiệu lịnh cho đoàn vệ sĩ vây bắt Ông lão, dẫn tới trước ngựa mình. Vị tướng dõng dạc hỏi:
- Lão là người ở đâu? Có biết luật lệ quốc gia không?

- Lão sống vô gia cư, chết vô địa táng. Lão đi đây đó để bán bài học vô giá mà chưa gặp kẻ thức giả biết giá trị của nó, nên chưa toại nguyện. Lão mỗi ngày mỗi già, đâm ra sốt ruột, sợ mình chết đi mà bài học vẫn chưa bán được. Hôm nay xa giá đi qua, lão nghĩ rằng đây là một dịp quý, may ra có người mua được, nên lão quên cả lễ nghi, xin thượng quan miễn chấp.

Vị tưóng tò mò hỏi:
- Ðâu, bài học gì đưa xem!

Ông lão đưa cao chiếc gậy trước đầu ngựa, chỉ vào chiếc đãy:
- Nó nằm ở trong chiếc đãy gấm này!

Vị tướng với tay định lấy chiếc đãy, nhưng Ông lão lanh lẹ rút chiếc gậy về, cười nói:
- Ðâu có được dễ dàng như vậy! Ngài muốn mua thì phải trả giá cả xong xuôi đã chứ!
- Bao nhiêu?
- Thưa, một ngàn lượng vàng!

Vị tướng bỗng phát lên cười:
- Lão có điên không? Suốt đời ta làm tướng, đánh Ðông dẹp Bắc, thí mạng sống để phò vua giúp nước, mà chưa bao giờ có được một trăm lượng vàng. Nay lão bán chiếc đãy to bằng bàn tay, không biết đựng gì ở trong mà đòi đến một ngàn lượng vàng, thì thật là điên khùng. Thôi lão hãy xê ra cho đoàn ngự giá đi. Ta không đùa nữa đâu!

Vua Ðột Quytế đang ngồi trong long xa không hiểu vì sao đoàn ngự giá dừng lại hơi lâu, vén rèm nhìn hỏi quan cận vệ:
- Có chuyện gì mà phải dừng lâu vậy?
- Tâu Hoàng Thượng, có một Ông lão đang rao bán một bài học mà Ông bảo là quý giá lắm.

Vua mỉm cười, truyền lịnh gọi Ông lão đến trước long xa của mình. Vua tự bảo đây là một cơ hội để mình giải trí. Cuộc đời bằng phẳng, ngày nào cũng yến ẩm tiệc tùng, ca hát, săn bắn, xử kiện đã làm cho Ngài chán ngấy lắm rồi. Cuộc đời đối với Ngài không còn có gì là mới lạ để mà nhìn ngắm, không còn có gì là cao siêu, kỳ bí để mà tìm tòi, học hỏi nữa cả. Thế mà nay lại có một Ông lão bảo rằng mình có một bài học quý giá đem đi rao bán cả cho vua nữa. Ngài có một cảm giác thích thú như khi đi săn gặp một con mồi hung hăng, quyết liệt đương đầu với mình.

Ông lão đến trước long xa, rạp mình vái lạy vua, rồi cúi đầu đợi lịnh. Vua Ðột Quyết lặng lẽ ngắm nhìn Ông lão, cảm thấy có một vẻ gì tiên phong đạo cốt tỏa ra từ người Ông lão. Hồi lâu vua cất tiếng hỏi:
- Trẫm nghe nói Ông lão có bài học gì hay lắm phải không?
- Tâu Hoàng Thượng, bảo rằng hay thì chưa đúng lắm; phải nói đây là bài học quý báu nhất đời.

Vua mỉm cười, có vẻ mỉa mai:
- Ông lão có chủ quan không? Nhưng trẩm cũng miễn chấp cho lão, vì thường tình ai bán món hàng gì cũng cho rằng món hàng của mình là nhất.
- Tâu Hoàng Thượng! Suốt đời lão chưa hề biết nói ngoa. Lão chỉ tiếc là không có một ngôn ngữ nào có thể diễn tả cho đúng cái giá trị cao cả của bài học này, nên tạm dùng danh từ là bài học vô giá.
Vua cười dễ dãi:
- Thôi thì ta cũng chấp nhận là vô giá đi! Nhưng đã là vô giá thì ta biết trả cho lão bao nhiêu?
- Tâu Hoàng Thượng, lão chỉ lấy giá tượng trưng là một ngàn lượng vàng thôi.

Có nhiều tiếng cười bật lên trong đám cận thần, tướng tá vây quanh Ông lão. Vua cố làm vẻ nghiêm trang, nhưng cũng không thể nhịn cười. Vạt áo cẩm bào trước bụng ngài rung chuyển một hồi, trước khi ngài cất tiếng phán bảo:
- Giá tượng trưng mà đến 1000 lượng vàng, còn nếu thật giá thì chắc trẫm phải bán cả giang sơn của trẫm cũng chưa đủ để trả cho lão.

Ông lão trả lời nhà vua một cách tỉnh khô:
- Tâu Hoàng Thượng! Thật quả đúng như vậy. Và lão tưởng như thế vẫn không phải là đắt; vì vói bài học này, Hoàng Thượng có thể gây dựng thêm mười giang sơn như thế này cũng được.

Bây giờ không còn ai cười nữa. Câu nói của Ông lão làm cho mọi người, từ vua đến quan chú ý, vì họ cảm thấy có một vẻ gì nghiêm trang chân thật trong lời nói của Ông lão.
Vua bỗng xoay câu chuyện qua một hướng khác:
- Lão có gia đình, vợ con gì không?
- Tâu Hoàng Thượng, lão tứ cố vô thân từ ngày sanh ra đời cho đến giờ.
Vẻ mặt vua trở nên rạng rỡ. Ngài nói mau:
- Vậy thì lão lấy 1000 lượng vàng dùng vào việc gì, để lại cho ai, nhất là những ngày cuối cùng của lão cũng không còn bao nhiêu nữa? Trẫm sợ lão lấy vàng mà không giữ được, lại còn mang họa vào thân nữa.

Ông lão cười một cách lém lỉnh:
- Lão xin đội ơn Hoàng Thượng đã lo nghĩ giùm cho lão. Nhưng lão đã có cách sử dụng số vàng bán được, xin Hoàng Thượng đừng lo.
Vua lại hỏi sang một vấn đề khác:
- Lão đối với trẫm như thế nào? Có đặc biệt hơn đối với những người khác không?
- Tâu, lão đặt Hoàng Thượng lên ngôi cao quý nhất, và bởi thế cho nên hôm nay lão mới đến chợ này, đợi Hoàng Thượng đi săn về để bán bài học, vì lão nghĩ, ngoài Hoàng Thượng ra chắc không ai mua nổi; vả lại không ai sử dụng bài học này một cách lợi ích lớn lao bằng Hoàng Thượng, nếu thật tình Hoàng Thượng muốn dùng đến nó.

- Lão đã biết nghĩ như vậy, sao lão còn muốn đòi cho được 1000 lượng vàng của trẫm?
- Tâu Hoàng Thượng, lão có thể dâng không, hay lấy vài lượng vàng của Hoàng Thượng cũng được, bởi thật tình lão cũng không cần đến số vàng nhiều như vậy, nhưng lão nghĩ rằng: những vật đem tặng hay bán rẻ thường bị xem thường xem khinh. Tục ngữ có câu "của rẻ, của hôi" Cho nên lão nhất quyết phải bán đúng giá 1000 lượng vàng, thì Hoàng Thượng mới quý bài học của lão.

Vua công nhận lời Ông lão nói là chí lý, nhưng vẫn tiếc số vàng phải bỏ ra. Vả lại Ngài cũng sợ đình thần cho mình quá giàu, và tiêu pha một cách quá xa xí. Ngài nói:
- Trẫm bằng lòng trả bài học 1000 lượng vàng, nhưng bây giờ trẫm trả trước 500 lượng, còn 500 lượng nếu trẫm thấy bài học hay và đem áp dụng có hiệu quả, thì trẫm sẽ trả nốt.
Ông lão có vẻ bực mình nói:
- Như vậy là Hoàng Thượng không dốc lòng mua. Thôi xin cho lão đi nơi khác để bán kẻo trưa lắm rồi.

Ông lão vái chào rồi rẽ đám quan quân, chống gậy rảo bước đi. Tánh háo kỳ của vua Ðột Quyết bị kích thích tột độ, nhất là trước cái hành tung và cốt cách lạ lùng của Ông lão. Vua truyền gọi Ông lão trở lại. Ngài nói có vẻ quở trách:
- Người thật ngạo mạn. Người đối với trẫm không có chút kính trọng nào cả. Giá cả chưa xong sao người lại bỏ đi như thế?
- Tâu Hoàng Thượng, xin Hoàng Thượng thứ cho lão. Nhưng lão thiết nghĩ, nếu ở địa vị của Hoàng Thượng, Hoàng Thượng xem 1000 vàng là trọng hơn bài học của lão, thì ở địa vị của lão, lão cũng thấy tiếc bài học của lão.

Vua nói hòa giải:
- Thôi thì ta bằng lòng trả cho Ông lão 1000 lượng vàng đó. Hãy đưa bài học ta xem.
Ông lão mỉm cười, như để xin lỗi:
- Tâu Hoàng Thượng lượng thứ cho! Tục ngữ có câu: "Tiền trao cháo múc". Lão sẽ dâng bài học cho Hoàng Thượng, sau khi nhận đủ 1000 lượng vàng.
- Ông lão thật khó chịu! Người không tin trẫm sao?
- Trước khi trả lời, xin Hoàng Thượng cho lão hỏi lại: Hoàng Thượng có tin lão không?
Vua do dự trước khi trả lời:
- Thật tình ta hơi nghi ngờ về giá trị của bài học mà người ca tụng.
- Hoàng Thượng không tin được lão, thì lão xin lỗi, làm sao lão tin được Hoàng Thượng? Thường thường dân tin lời nói của vua, nhưng vua lại không làm theo lời nói của mình, nên việc quốc gia thường đỗ vỡ. Lão nghĩ rằng: giữa vua và dân phải có sự công bằng, hoặc hai bên đều tin cậy nhau. Nếu bên này không tin bên kia, thì đừng bắt bên kia phải tin lại. Và nếu hai bên không tin nhau thì tốt hơn hết là làm theo khẩu hiệu "Tiền trao cháo múc".

Vua gượng cười, phán bảo:
- Thôi thì ta cũng làm theo ý của người.
Ngài xoay qua phía quan giữ kho bảo phải đem đến gấp 1000 lượng vàng. Quan giữ kho phi ngựa về cung, rồi chẳng mấy chốc trở lại với một tiểu đội binh mã gồm mười người, mỗi người mang một cái đãy đựng 100 lượng vàng y. Vua truyền đếm vàng giao cả cho Ông lão.
Ông ta trút hết tất cả 10 bao vàng vào một cái bao lớn. Mọi người tò mò chờ xem Ông lão làm thế nào để mang số vàng về nhà. Vua nghĩ thầm thế nào Ông lão cũng khó toàn tánh mạng với số vàng lớn lao kia. Ngài tỏ vẻ thương hại, hỏi Ông:
- Người có cần ta cho mượn mười lính thị vệ mang vàng về nhà cho người không?
- Xin đội ơn Hoàng Thượng, lão chẳng cần ai giúp đỡ! Lão đã có học được đôi chút võ nghệ từ hồi còn nhỏ, nên có thể mang nặng hàng trăm cân. Bây giờ xin kính dâng bài học lên Hoàng Thượng ngự lãm. Lão chỉ xin thưa một lời cuối cùng trước khi ra về và xin Hoàng Thượng nhớ cho là: "Bài học nào cũng vậy, có áp dụng mới biết hay hoặc dở".

Ông lão nói xong, lấy cái đãy ở đầu chiếc gậy dâng lên vua Ðột Quyết, rồi cúi xuống quảy bao vàng lên vai, chống gậy đi thoăn thoắt. Toàn thể đoàn xa giá vô cùng ngạc nhiên về sức mạnh phi thường của Ông lão. Họ bảo nhau có lẽ Ông già này là một dị nhân, có người cho ông ta có tà thuật. Vua nắm cái đãy trong tay nhưng mãi nhìn theo hành tung của Ông lão, nên chưa kịp lấy bài học ra xem. Bấy giờ sực nhớ lại, ngài mới vội vã ngắm nghía, quan sát cái đãy gấm. Tất cả quan quân đều quay lại hướng nhìn nhà vua, hồi hộp chờ đợi cái phút vua mở bài học trong đãy gấm ra xem. Nhà vua cũng đâm lo lắng, và hồi hộp hơn tất cả mọi người. Ba lần ngài định mở sợi dây thắt miệng đãy, rồi lại dừng tay. Cuối cùng ngài giở tráp vàng để bên cạnh mình, bỏ cái đãy gấm vào, đậy lại cẩn thận và phán bảo:

- "Một bài học ngàn vàng" không thể mở ra đọc ở dọc đường dọc xá được.
Và ngài truyền lịnh cho đoàn ngự giá tiếp tục lên đường về cung. Mọi người đều tiu nghỉu thất vọng vì không được chứng kiến đoạn kết thúc của một câu chuyện mở đầu rất hào hứng, tân kỳ. Thực ra thì vua cũng rất sốt ruột muốn xem ngay bài học nói gì, nhưng càng bình tâm nghĩ lại, ngài cũng sợ mắc lừa Ông lão. Ngài không muốn giở ra xem trước mặt đình thần, vì nếu bị lừa thì thật là xấu hổ, còn gì là thể thống của một đấng quân vương ngồi trên thiên hạ? Cho nên ngài định về cung, đợi đến đêm khuya mở ra xem một mình, nếu có bị lừa cũng không ai hay biết. Trên đường về cung, ngài cứ băn khoăn, tự trách mình sao quá dễ dãi, mua một bài học đắt giá như vậy mà quên hỏi tung tích Ông già, quên cho người đi theo dò la hành động của Ông, và nhất là không truyền lịnh đem Ông già về cung để đợi xem xong bài học ra thế nào, rồi sẽ thả ra sau.
Vua tự bảo lần sau mình phải thận trọng hơn nữa mới được. Và ngài tự an ủi:
- Dù sao thì lão già ấy cũng không thể thoát khỏi tay ta. Nếu lão dám lừa phỉnh cả ta, thì lão sẽ mất đầu.


CHƯƠNG II


PHẢN ỨNG CỦA VUA KHI MỞ BÀI HỌC RA XEM

Hôm nay trong cung điện vua Ðột Quyết không có yếm ẩm, ca nhạc như các đêm khác. Sau mấy ngày đi săn bắn mệt nhọc, vua truyền lệnh cho các quan thị vệ, cận thần và cung nữ được nghĩ ngơi cho lại sức. Riêng ngài cũng cần được yên tĩnh để xem "Bài học ngàn vàng" vừa mua được. Thâm ý của ngài là không muốn cho ai khác được xem bài học, lý do thứ nhất là một vật qúy báu như vậy không nên để cho một ai hay biết; lý do thứ hai, là nếu bị lừa phỉnh, thì lại càng không nên để tiết lộ ra ngoài.

Cho nên hôm nay, ngài đi nghỉ sớm. Ðến 3 giờ sáng, ngài lặng lẽ thức dậy, đóng kín các cửa phòng, mở tráp vàng lấy cái đãy đựng bài học ra. Ngài mở dây gút trên miệng đãy, hồi hộp rút bài học đựng trong một cái phong bì dán kín. Ngài rất cẩn thận xé phong bì, rút ra một tờ giấy màu vàng tươi. Trên trang giấy chỉ vỏn vẹn có một câu, viết với một nét chữ rất đẹp như rồng bay phượng múa: "Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó".

Vua bật ngửa người, ném mạnh trang giấy xuống bàn. Sự tức giận của ngài lên cực độ, làm cho người nghẹt thở. Nếu không sợ quan thái giám và cung phi mỹ nữ biết được, thì ngài đã đập đổ tất cả bình vàng chén ngọc để trước mặt ngài trên chiếc án chân quỳ nạm ngọc. Ngài càng nghĩ càng căm giận lão già. Không ngờ hắn lại đám phỉnh gạt cả vua. Bài học như vậy mà nó dám bảo là vô giá, đòi cho được 1000 lượng vàng, mà lại còn làm ra vẻ không cần. Nó thật quá ngạo mạn, dám cho đó là một bài học, trong khi chỉ là một câu nói tầm thường, chỉ để khuyên bọn trẻ con. Ta là một ông vua, trị vì thiên hạ, quyền uy cái thế, đâu có cần một bài học như vậy. Ta muốn làm gì thì ta làm, ta ban sự sống, ta truyền lệnh chết. Ta là thiên tử, ta muốn là trời muốn. Ta hô một tiếng là có thể dời sông, lấp biển. Ta đâu cần nghĩ đến hậu quả làm gì? Ta muốn hậu quả như thế nào, thì hậu quả phải như thế ấy!

Nhà vua định xé tờ giấy của Ông già viết ra làm muôn mảnh và vứt vào ống phóng cho mất tang tích. Nhưng ngài dừng tay lại vì chợt nghĩ rằng: nên để nó lại chờ ngày bắt được lão già sẽ trả lại cho lão, đòi 1000 lượng vàng lại trước khi hành quyết. Cần có đủ bằng cớ, tang tích để lão già mồm mép kia không thể chối cãi được. Vua dằn sự tức giận, xếp tờ giấy bỏ vào chiếc đãy gấm và buộc giây lại như cũ. Ngài bỏ vào tráp vàng để ở trên án thư. Nhưng một lát sau, nghĩ thế nào không biết, ngài lấy chiếc tráp, đem bỏ vào tủ bằng cẩm thạch dùng để đựng các thứ thất bảo quý nhất và khóa lại cẩn thận. Không phải ngài liệt cái bài học của Ông già vào hàng quốc bảo, nhưng chỉ vì ngài sợ để ra ngoài, có người xem trộm được, sẽ chê ngài khờ dại, đã để cho một ông già phỉnh gạt, và tin ấy sẽ đồn đãi ra, sẽ làm ngài mất uy tín, khó trị vì thiên hạ.

Công việc đầu tiên ngài phải làm là truyền lệnh tìm bắt cho được Ông già. Nhưng đây là một việc mật, cần phải giao phó cho người thân tín thi hành. Vua định kế hoạch xong xuôi đâu đó, thì trống canh trên hoàng thành đã thúc tan canh. Ngài đánh một giấc cho đến chiều tối. Không ai dám thức ngài dậy, vì ai cũng nghĩ rằng bài học chắc phải cao siêu lắm nên làm cho ngài mỏi mệt, không thể dậy sớm được.

Sau khi thức dậy, Ngài truyền lệnh cho quan thái giám mở tiệc khoảng đãi đình thần vào tối hôm ấy, lấy lý do là để mừng Hoàng Thượng vừa có hồng phúc mua được bài học quý giá.

Vì đã quen tổ chức tiệc tùng yến ẩm, cho nên trong vài giờ sau, quan Thái Giám đã bày biện xong một đại tiệc trên năm trăm thượng khác tại ngự uyển. Văn võ bá quan trong triều không ai thiếu mặt, vì được vua ban đại yến là một vinh dự không thể bỏ qua; hơn nữa mọi người đều nóng lòng muốn biết bài học vô giá mà vua vừa mua được, nó quý giá cao siêu như thế nào.

Diện mạo của vua hôm nay không khác mọi ngày. Ngài vẫn vui vẻ nói cười, nhưng nếu ai để ý nhìn kỹ thì thấy ngài uống rượu nhiều hơn mọi hôm trước. Cuối bữa yến, ngài tuyên bố rất hài lòng về bài học của Ông già, và có thể xem như là một quốc bảo. Có quan Ðại thần đánh bạo đứng dậy tâu vua có thể nói cho biết nội dung và tánh cách bài học như thế nào không. Vua cười gượng gạo bảo rằng bài học có tánh cách cơ mật, không thể nói ra cho tất cả triều thần biết được. Tuy thế, ngài hứa sẽ tùy theo địa vị của các đình thần và tùy theo hoàn cảnh mà tiết lộ cho một số các thượng quan biết.

Câu chuyện bài học không còn ai buồn nhắc nhở nữa, khi đoàn vũ nữ đẹp tuyệt trần với những xiêm y rực rỡ kéo nhau ra sân khấu. Nhưng chính trong lúc mọi người đang say mê xem múa nhảy thì vua cho gọi quan Ðề Ðốc vào hậu cung để ngài dạy bảo.

Quan Ðề Ðốc Thanh Phong là một vị võ tướng thân tín của ngài, thường thường những việc mật vua đều giao phó cho vị quan này thi hành. Vua tỏ thật ra cho vị Ðề Ðốc biết chuyện mình bị gạt và truyền cho vị này phải tìm bắt cho được Ông già đã bán bài học. Quan Ðề Ðốc xin hứa trong một tuần sẽ đem nạp Ông già trước bệ rồng. Là một con người nhiều mưu chước, quan Ðề Ðốc đề nghị với nhà vua là tuyên bố cho mọi người biết rằng bài học rất quý báu, nên vua muốn trọng thưởng thêm vàng bạc cho Ông già, nhưng không biết Ông ở đâu. Vậy nếu ai tìm được chỗ ở của Ông già và báo tin cho ông biết cũng sẽ được trọng thưởng.

Và sau khi cuộc yến ẩm, ca vũ, chấm dứt, mọi người ai ai cũng hy vọng đi tìm kiếm Ông già để lãnh thưởng.

Từ hôm ấy, ngày nào vua Ðột Quyết cũng trông ngóng tin tức về Ông già; nhưng biệt vô âm tín. Gần đến kỳ hạn một tuần vua càng sốt ruột. Vua sợ để lâu, Ông già sẽ trốn ra khỏi nước, sang nước Quý Lâm, là một lân bang thù nghịch và phao tin đồn vua bị gạt, thì thật là làm trò cười cho thiên hạ.

Nhưng nếu vua sốt ruột một phần, thì quan Ðề Ðốc Thanh Phong lại sốt ruột mười phần. Quan sẽ mất uy tín biết bao đối với sự tin cậy của vua, khi không tìm ra được Ông già. Một ông già lọm khọm, tứ cố vô thân, mang theo một bao vàng nặng trĩu như vậy, mà có thể trốn thoát ra khỏi nước một cách dễ dàng, thì làm sao nói chuyện giữ an ninh trật tự cho trăm họ và giữ yên bờ cõi chống xâm lăng? Quan huy động tất cả lính tráng dưới quyền mình đi lục soát từng nhà một trong đêm khuya, và ban ngày chận đón tất cả các ông già để khám xét. Ngoài ra quan còn sai bọn mât thám rất đông đảo dưới tay mình giả làm người đi mua heo, đi bán chiếu, người lỡ đường đi ăn xin, ngủ trọ để dò xét. Tất cả quán xá ở các ngã tư, ngã bài học đường cái đều có người của quan Ðề Ðốc dòm ngó. Nhưng Ông già vẫn biệt vô âm tín!

Kỳ hạn một tuần đã hết, quan Ðề Ðốc với vẻ người tiều tụy, trông già đi đến 10 tuổi, vì sự lo nghĩ và mất ăn bỏ ngủ, khúm núm vào quỳ trước long sàng để chịu tội về sự bất lực của mình.

Bao nhiêu sự giận dữ của vua đối với Ông già đều trút lên đầu lên cổ quan Ðề Ðốc. Người ta có cảm tưởng lưng quan Ðề Ðốc mỗi lúc mỗi còng thêm xuống vì những danh từ nặng nề mà quan phải gánh chịu thay cho Ông già. Ông già khi vác bao vàng 1000 lượng đâu có vẻ nhạc nhằn như vậy.
Nhưng có một lúc, như con ngựa chở quá nặng, bất kham đâm liều, đã trút đổ tất cả đồ vật mang trên lưng, quan Ðề Ðốc dứng thẳng dậy, nói thẳng ý mình:

- Tâu Hoàng Thượng, thần không xứng đáng nhận lãnh tất cả các lời quở trách nặng nề của Hoàng Thượng. Từ trước đến nay Hoàng Thượng đã tin dùng thần, thì chắc Hoàng Thượng cũng đã xét đến lòng tận trung của thần như thế nào rồi. Nhưng trong vụ Ông già này, thần xin thú thật, thần chịu bất lực. Ông già đã phỉnh gạt cả Hoàng Thượng thì chắc cũng không phải tay vừa ...

Vua nghe câu nói cuối cùng của quan Ðề Ðốc giận đến xám mặt. Ngài hất đổ tất cả đồ đạc để trên án thư, vùng đứng đậy, nạt:
- Ngươi nói gì? Trẫm bị phỉnh gạt hả? Ngươi đã nhục mạ trẫm. Tội khi quân của ngươi đáng chém đầu!

Nói xong, vua truyền quan Thái Giám đem bỏ quan Ðề Ðốc vào ngục thất để chờ ngày ra pháp trường vì tội khi quân.

Thật ra câu nói của quan Ðề Ðốc không đến nỗi phải bị kết vào trọng tội như vậy. Nhưng nhà vua muốn trừ quan Ðề Ðốc để dập tắt luôn vụ mình bị lừa phỉnh, không cho nó lan ra ngoài; vì ngoài quan Ðề Ðốc, ra chưa có một ai rõ biết về sự thật của bài học ngàn vàng kia.

Khuya hôm ấy, quan Ðề Ðốc bị xử uống thuộc độc chết ở trong ngục thất.
Ba ngày sau, tin đồn ra cho biết rằng quan Ðề Ðốc đã bị xử tử vì tội âm mưu giết vua để chiếm ngôi.


CHƯƠNG III


SỰ TRẢ THÙ CỦA THẠNH BẢO, CON QUAN ÐỀ ÐỐC

Tin đồn quan Ðề Ðốc bị xử tử mấy hôm sau lan đến biên thùy giữa hai nước Nhục Chi và Quý Lâm. Tướng giữ biên cương là Thạnh Bảo, con trai đầu của quan Ðề Ðốc, một viên tướng trẻ tuổi nhưng tài cao, được vua tin cậy cho ra trấn đóng ở biên thùy với binh hùng tướng mạnh để hầu ngăn cản ngoại xâm tứ nước Quý Lâm tràn sang.

Ðược tin dữ, Thạnh Bảo đau đớn và kinh hoàng đến ngất xỉu. Người nhà phải kêu gọi hồi lâu chàng mới tỉnh lại. Theo như tin cho biết thì ông thân Thạnh Bảo bị xử tử vì tội mưu đoạt ngôi vua, một tội rất nặng có thể bị tru di tam tộc. Chàng nghĩ thật là vô lý! Cha chàng mà lại phản vua, muốn chiếm đoạt ngai vàng! Một vị cận thần, được vua tin cậy từ trước đến nay, mà sao lại dám làm như vậy? Chắc ở bên trong còn có nhiều bí ẩn khác nữa. Nhưng điều không ai còn nghi ngờ là cha chàng đã chết thật, và đã chết về tội phế vua. Với một tội trạng như vậy, chắc chắn chàng cũng sẽ bị liên lụy, có thể bị mất chức, tù tội hay xử tử cũng nên.

Do đó, chàng phải tìm cách đối phó trước. Sự việc đã đẩy chàng vào chân tường, chàng không thể bó tay chịu chết một cách vô lý như vậy. Một mặt chàng viết mật thư cho người tín cẩn sang nước Qúy Lâm xin viện binh một mặt chàng kiểm điểm binh mã kéo rốc về Kinh đô, để hạch tội vua về việc đã giết cha chàng.

Binh hùng tướng mạnh của Thạnh Bảo rầm rộ kéo về Kinh đô, trước sự ngơ ngác của dân chúng. Phản ứng của Thạnh Bảo rất nhanh khiến vua cũng không ngờ và không kịp đối phó. Ba ngày sau, Kinh đô đã bị vây kín. Vua không còn biết làm gì hơn là đóng cửa thành, tìm kế hoãn binh để đợi cứu viện. Trong khi nóng giận, vua ra lịnh giết quan Ðề Ðốc mà quên "xét kỹ đến cái hậu quả" sẽ đến cho mình là sự trả thù của Thạnh Bảo. Ba lần vua sai sứ giả ra cầu hòa và hứa sẽ đền đáp xứng đáng việc xử tử oan quan Ðề Ðốc, nhưng Thạnh Bảo không chịu.

Ban đầu, khi mới kéo quân trở về Kinh đô, Thạnh Bảo chỉ vì nóng lòng muốn biết vì sao cha mình bị giết và nhất là để tự vệ, để phòng sự việc bất trắc có thể xảy đến cho mình. Nhưng giờ đây, sau khi thấy rõ lực lượng của mình quá mạnh, và sự cô thế của vua, cũng như sự bất lực hèn nhát của đình thần, Thạnh Bảo muốn nhân cơ hội này phế bỏ vua và chiếm luôn ngai vàng, điều mà trước kia, không bao giờ chàng dám nghĩ đến.

Trong khi chờ đợi giờ phút đầu hàng của vua quan trong thành. Thạnh Bảo ra một tờ hịch kể tội của vua: nào là thiếu sáng suốt, ăn chơi quá độ, không lo việc nước; nào là nhu nhược để cho bọn nịnh thần thao túng triều đình, nào là phung phí của cải nhà nước, làm cho dân đã nghèo lại càng nghèo thêm. Dân chúng ở kinh thành ban đầu còn dè dặt, chưa dám hưởng ứng, nhưng sau thấy lực lượng của Thạnh Bảo quá mạnh, mà đình thần lại không có ai đủ tài sức đương đầu với Thạnh Bảo nên đã theo về rất đông. Nhất là trong hoàng thành mỗi ngày mỗi thiếu thực phẩm, nước không đủ uống, gạo không đủ ăn. Bệnh dịch tả bắt đầu xuất hiện. Và tin đồn quân của nước Quý Lâm đã tràn vào biên thùy.

Tình hình thật là nguy ngập, đen tối. Vua vấn kế đình thần, nhưng đình thần quen ăn chơi và xem múa hát, không ai còn đủ minh mẫn và sáng kiến để hiến kế cho vua. Ðôi khi vua cũng đâm ra hối hận vì đã giết quan Ðề Ðốc. Nếu có quan Ðề Ðốc, chắc ngài không đến đỗi cô độc, nhục nhã và bất lực như thế này. Nhưng sự việc đã lỡ, hối cũng muộn rồi! Ðìều quan trọng hiện nay là làm sao tìm được một người tài trí đủ sức đẩy lui bọn giặc Thạnh Bảo. Nếu không tìm ra được thì chỉ có cách là bỏ thành trốn thoát để bảo toàn tính mạng. Ngài chỉ còn trông mong sự cứu trợ của tướng Hoàng Cái, một viên tướng có mưu lược và uy quyền đang trấn đóng ở biên thừy phía nam. Nhưng đã trên mười lăm ngày qua mà không nghe tin tức gì của Hoàng Cái cả, vua quá lo sợ. Phen này Thạnh Bảo phá được thành thì cả Hoàng tộc sẽ bị giết sạch. Dân chúng và binh lính vừa chết vì đói và vừa chết vì dịch tả. Triệu chứng rối loạn đã bắt đầu xuất hiện trong hoàng thành. Từng đoàn binh lính đã cởi bỏ quân phục để trốn lánh trong dân chúng. Ban đêm chỗ này kêu cướp, chỗ kia kêu cháy nhà. Thấy tình thế mỗi ngày mỗi nguy ngập, một đêm tối trời cua cùng hoàng gia đã theo đường hầm bí mật lén trốn ra khỏi kinh thành, đi về phí Nam là nơi đạo quân của Ðại tướng Hoàng Cái đang đóng.

Hai hôm sau, dân chúng trong thành mới hay nhà vua đã trốn thoát. Ðể tự cứu, họ đã đồng thanh mở cửa thành cho đạo quân của Thạnh Bảo kéo vào. Dân chúng hoan hô chàng và tôn chàng lên làm vua.

Ðể mua chuộc lòng dân chúng. Thạnh Bảo truyền mở các kho gạo thóc gạo còn lại của nhà vua ra phân phát cho dân; và đối với triều thần cũ, chàng ra mật chỉ dụ cho phép vị nào muốn nghỉ việc thì cứ tự do trở về quê cũ, còn vị nào muốn ở lại phục vụ quốc gia thì sẽ được thăng cấp. Hầu hết đều lục tục xin ở lại phò vua mới.

Nhưng công việc đầu tiên của Thạnh Bảo sau khi được tấn phong là tự mình kiểm điểm lại các kho ngọc vàng châu báu của tiên vương để lại. Chàng cho phá cái tủ bằng cẩm thạch để trong phòng ngủ của vua vua Ðột Quyết. Chàng thất vọng không thấy một báu vật nào ở trong hết, ngoài trừ cái đãy có đựng bài học của Ông già. Chàng tò mò mở ra xem và khinh bỉ xé trang giấy ra nhiều mảnh nhỏ. Chàng lẩm bẩm: "Xét kỹ đến hậu quả trước khi làm việc!" Sao nó lại để câu này vào đây làm gì? Nó muốn dạy ta chắc! Nếu thật nó tin vào giá trị của câu này, thì nó phải dạy nó trước đã chứ. Nó muốn dạy đạo lý nhân quả cho ta, trong khi chính nó lại không áp dụng cái đạo lý ấy. Vả lại, bài học này đâu có đúng, chính ta đây, trong khi cất binh về hỏi tội nó, thì ta chỉ nghĩ đến tự vệ, chứ ta đâu có nghĩ đến hậu quả là được ngai vàng. Ta nhắm một tiêu này, mà công việc lại đưa ta đến một mục tiêu khác! Vậy thì làm sao có thể đoán trúng được hậu quả mà phải suy nghĩ về hậu quả cho mệt trí.

Trong lúc say sưa với men chiến thắng và địa vị mới như vậy thì Thạnh Bảo được tin phi báo từ biên cương là đại quân của nước Quý Lâm đang tiến về Kinh đô. lấy danh nghĩa là giúp Thạnh Bảo diệt bạo chúa vua Ðột Quyết.

Tin báo ấy không sai. Ðạo quân của nước Quý Lâm. do một lão tướng có kinh nghiệm là Tùng Sơn đang ngày đêm tiến về Kinh đô. Ði đến đâu Tùng Sơn cũng loan báo cho dân chúng biết rằng: mình được Thạnh Bảo mời sang giúp sức. Bức thơ cầu cứu của Thạnh Bảo gởi vua Quý Lâm được viết phóng đại ra thành nhiều bản, nêu trên những tấm gỗ lớn và dựng lên ở các phố phường, chợ búa mà quân của Tùng Sơn đi qua. Và với chiêu bài ấy, đi đến đâu quân của Tùng Sơn cũng bắt dân chúng phải đón rước, thết đãi, nộp thóc gạo, thực phẩm để nuôi quân. Có nhiều nơi quân giặc ngoại bang bắt cả đàn bà, con gái, vợ con của dân chúng ra phục dịch mua vui cho chúng.

Nhân dân bắt đầu oán ghét Thạnh Bảo đã vì thù hận riêng tư, rước voi về giày mã tổ, cõng rắng cắn gà nhà. Không còn tin cậy ở cả vua cũ lẫn vua mới, họ tự động đứng lên chống quân xâm lăng, để bảo vệ xóm làng mồ mã. Quân của Tùng Sơn đần dần cảm thấy dân chúng địa phương tránh xa mình, không còn tiếp rước phục dịch nữa, mà trái lại còn tổ chức khuấy phá hậu phương mình.

Tùng Sơn, một con cáo già, mượn cớ để bảo vệ quân lính mình, đi đến đâu đều đóng đồn bót, đặt quan cai trị địa phương, truất bỏ nhóm hương lý cũ, đặt bọn hương lý mới là những tay sai ngoan ngoãn của mình. Thực ra đường từ biên thùy về Kinh đô, đi chậm lắm cũng chỉ khoảng 10 ngày là đến. Nhưng Tùng Sơn đâu có ý định đến Kinh đô gấp. Lão ta cố chần chờ để đặt cơ sở khắp nơi, và đáng lẽ thẳng đường về Kinh đô thì hắn lại đi vòng quang về phía Nam, như cố bọc hậu Kinh thành Nhục Chi.

Những tin tức ấy dồn dập được báo về cung. Thạnh Bảo vô cùng lo ngại bối rối, không biết phải đối phó ra làm sao: đêm quân ra cản không cho quân Tùng Sơn tiến vào thì không đủ sức, mà để cho quân Tùng Sơn xâm nhập mãi thì mất uy tín của mình, và cả ngai vàng nữa


CHƯƠNG IV


TƯỚNG HOÀNG CÁI GIẢI PHÓNG ÐẤT NƯỚC VÀ KHÔI PHỤC NGÔI VUA

Vì đã cầu cứu ngoại bang đem quân chiếm nước nhà, nên Thạnh Bảo mất hết chánh nghĩa.

Trái lại, Hoàng Cái dựa trên danh nghĩa chống ngoại xâm, bảo tồn xứ sở, khôi phục ngôi vua, đã tạo cho mình mỗi ngày mỗi thêm uy thế trong nhân dân. Sau khi đã chiêu mộ thêm binh mã một mách mau lẹ, vì sự nhiệt liệt hưởng ứng của toàn dân, Tướng Hoàng Cái làm lễ xuất phát về giải phóng Kinh đô. Lợi dụng sự khinh suất của Tùng Sơn đem quân tiến sâu về phía Nam, Tướng Hoàng Cái đã bất thần thúc quân ngang hàng hông đạo trung quân của địch, cắt đạo quân này làm đôi, tiền quân và hậu quân không liên lạc được với nhau. Phần không thông thuộc đường sá, phần bị dân chúng nổi dậy khuấy phá ở hậu phương, quân của Tùng Sơn mỗi ngày mỗi hao mòn. Lúc mới đầu, còn được dân chúng tiếp tế, nhưng càng đi sâu vào đất địch, dân chúng địa phương càng xa lánh, sự tiếp tế càng khó khăn, quân của Tùng Sơn dần dần mỏi mệt, thiếu thốn, và không còn giữ được kỷ luật như trước nữa. Do đó, càng đánh càng thua, càng thua càng mất tinh thần, và càng mất tinh thần càng thua nặng. Mười vạn tinh binh của Tùng Sơn bây giờ chỉ còn là một đạo quân ô hợp chưa đầy một vạn, tiến thoái lưỡng nan.

Ðáng lẽ lợi dụng tình trạng suy yếu của quân Tùng Sơn, Thạnh Bảo có thể mua chuộc tội phản nghịch của mình bằng cách tấn công vào quân của Tùng Sơn, giành lại chủ quyền của đất nước, nêu cao danh nghĩa giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại bang. Nhưng bị danh vọng, địa vị và quyền lợi nhãn tiền làm mù quáng lương tri, Thạnh Bảo vẫn nuôi hy vọng: vua nước Quý Lâm với tài nguyên dồi dào, tiềm lực chiến đấu hùng hậu, có thể đem thêm viện binh giúp mình đánh bại Hoàng Cái. Thái độ hướng ngoại và thần phục ngoại bang ấy, làm cho dân chúng ghét bỏ Thạnh Bảo. Ngay tại Kinh đô là nơi dân chúng tương được hưởng đôi chút ân huệ của nhà vua, Thạnh Bảo cũng không tìm được sự ủng hộ, mà trái lại còn bị ngấm ngầm phản đối khi quân của Hoàng Cái còn ở xa, và cứ mỗi ngày nghe tin của vị tướng này càng tiến về Kinh đô, thì dân chúng tại đây càng tỏ ra chống đối công khai với chính quyền do Thạnh Bảo nắm giữ một cách độc tài.

Sau khi được tin Hoàng Cái đã giết được tướng Tùng Sơn và tiêu diệt hoàn toàn tàn quân của địch, thì dân chúng ở Kinh đô nhất tề nổi dậy, bao vây hoàng cung, tước khí giới của lính phòng vệ hoàng thành và giam lỏng Thạnh Bảo trong cung, mở cửa thành chờ đón Hoàng Cái phò vua Ðột Quyết trở lại ngai vàng.

Như thế là sau 3 tháng xáo trộn trầm trọng vì sự dấy binh và cướp ngôi của Thạnh Bảo, trật tự lại được vãn hồi trên toàn quốc và tại Kinh đô nước Nhục Chi.

Vua Ðột Quyết được Ðại tướng Hoàng Cái phò về hoàng cung. Dân chúng tại Kinh đô treo đèn kết hoa và lập khải hoàn môn đón mừng sự trở về của vua. Ngài truyền mở hội khao mừng quân lính trong suốt bảy ngày đêm. Hoàng Cái và những tướng tá có công đều được thăng hai cấp bực và trọng thưởng ngọc ngà châu báu. Những người phản bội và theo ngoại bang, trong số đó có Thạnh Bảo đều bị bắt giam để chờ ngày đền tội.
Hoàng Cái trở thành đệ nhất công thần và cột trụ chính của triều đình, được vua hoàn toàn tin cậy và trọng nể. Ngài cho phép Hoàng Cái được đặc biệt ra vào hoàng cung lúc nào cũng được và có thể trình bày ý kiến của mình trong mọi vấn đề.

Căn cứ trên đặc ân ấy, ngay sau ngày đăng quang của vua Ðột Quyết, Hoàng Cái đã vào hoàng cung xin yết kiến vua để trình bày một việc mà Hoàng Cái cho là rất quan trọng đối với vận mệnh của quốc gia.

Sau khi được vua chấp thuận, Hoàng Cái đã dâng một bức thư điều trần lên vua Ðột Quyết, trong ấy vị Ðại thần này trách cứ vua đã để mất ngôi vì chỉ nghĩ đến chuyện săn bắn, ăn chơi, múa hát mà không lo đến việc quốc kế dân sinh. Nếu từ đây về sau vua vẫn không thay đổi nếp sống cũ thì quốc gia sẽ bị nguy khốn một lần nữa, và cái họa ngoại xâm chắc là không thể tránh khỏi.

Vua đã nén lòng tự ái và công nhận lời khuyên của Hoàng Cái là đúng. Ngài tự hứa từ nay về sau sẽ chăm lo việc nước và dẹp tất cả những cuộc yến ẩm ca múa trong cung.

Sau khi triều đình đã được chỉnh đốn, vua mới truyền đem Thạnh Bảo ra xử. Thạnh Bảo bị ghép vào tội phản loạn, thông đồng với ngoại bang để cướp ngai vàng và sẽ bị xử trảm tại pháp trường cát dựng lên ở giữa Kinh đô.

Vào một buổi sáng sớm mùa thu, nhằm vào một phiên chợ tại Kinh đô, người ta được mục kích một đám quan quân áp giải một tên tử tù ra pháp trường. Tên tử tù này không ai khác hơn là Thạnh Bảo. Ðám rước đi từ trong hoàng thành ra, dẫn đầu là hai con voi trắng lớn, ở giữa là một vị võ quan mang một tấm biểu lớn liệt kê sanh tánh và tội trạng của tử tội. Kế đó là hai hàng lính tráng mang trống lớn và chiêng to, cùng các loại nhạc khí. Tiếp theo sau là chiếc cũi nhốt Thạnh Bảo, hai bên có hai hàng lính, gươmg giáo sáng ngời đi hai bên.

Ðình thần và vua Ðột Quyết cũng được nghinh giá theo đám rước với đầy đủ cung cách và nghi vệ của một vị Ðại vương.

Ðến pháp trưòng, Thạnh Bảo bị dẫn ra khỏi chiếc cũi và trói vào một cột trụ. Sau khi vua và đình thần an vị xong trước pháp trường, dân chúng đã được sắp xếp có trật tự ở chung quanh. Ba hồi chiêng trống nổi lên dõng dạc và oai nghiêm … Quan hình bộ thượng thư ra tuyên đọc tội trạng của tử tội. Tất cả đình thần và dân chúng đều im lặng, lắng nghe những lời buộc tội nghiêm khắc của quan thượng thư, và hồi hộp chờ phút giây vua ra lịnh hành quyết …

Ba hồi chuông trống đã chấm dứt từ lâu. Mọi người đều im lặng nhìn về phía vua Ðột Quyết. Gã đao phủ mình trần trùng trục đưa cao ngọn đao sáng chói mặt trời, chờ lịnh hạ xuống đầu Thạnh Bảo.

Vua từ từ đứng lên, tiến tới trước mặt Thạnh Bảo, nhìn chàng một hồi rồi cất tiếng nói:
- Thạnh Bảo! Người có nhận tội phản nghịch của ngươi không? Ngươi có ân hận về những điều ngươi đã làm không?

- Thạnh Bảo bình thản ngước nhìn vua trả lời:
- Thần đã thất bại trong mưu đồ của thần và thần cam chịu chết. Ðược là vua thua là giặc, đó là lẽ thường. Thần không có gì phải ân hận. Nếu ngài thất bại, thì hôm nay, chỗ đứng của ngài là trước cột trụ của pháp trường này, và chỗ ngồi của thần là cái ngai vàng, chính giữa đám triều thần kia.
Vua mỉm cười mai mỉa:
- Ta khen cho ngươi sắp chết mà vẫn còn cương trực. Trước khi lìa cõi đời, ngươi còn lời nói cuối cùng gì nữa không?
Thạnh Bảongập ngừng một phút rồi nói:
- Thần chỉ ân hận có một điều ... và điều ấy có thể thay đổi cả cuộc diện hôm nay ...
- Ðiều gì?
Thạnh Bảo ngập ngừng nhìn quanh quan quân đứng chung quanh. Vua đoán biết ý định của Thạnh Bảo, hỏi:
- Ngươi muốn nói riêng với trẫm chăng?
Thạnh Bảo gật đầu. Vua truyền cho quan quân lùi xa ra khỏi pháp trường và tiến sát đến gần Thạnh Bảo:
- Bây giờ ngươi hãy nói cho ta nghe đi.

Thạnh Bảo thì thầm nói với vua ...
Vua như sực nhớ điều gì, đứng thẳng người dậy, vẻ mặt đăm chiêu, rồi gật đầu mấy cái, như vừa khám phá ra một điều gì quan trọng.

Vua xoay lại, nhìn đình thần một phút, rồi truyền cho người đao phủ hạ đại đao xuống, và tạm thời đình hoãn cuộc hành quyết.

Tất cả mọi người đều vô cùng kinh ngạc.

Ðại Tướng Hoàng Cái bực tức tiến tới trước vua Ðột Quyết, định chất vấn và ngăn cản lịnh của vua. Nhưng vua đưa tay ra hiệu hãy im lặng và truyền quan quân ngự giá hồi cung. Ðoàn người chậm rãi quay về trong một bầu không khí ngột ngạt và bực tức ...


CHƯƠNG V


BÀI HỌC NGÀN VÀNG ÐƯỢC GỢI LẠI

Ðại tướng Hoàng Cái vẻ mặt giận dữ tiến thẳng vào hậu cung, sau khi ở pháp trường trở về. Vị Ðại thần này muốn biết lý do vì sao vua đã truyền lịnh hoãn việc xử trảm Thạnh Bảo.

Vua biết Hoàng Cái đang bực tức mình nên cố làm ra vẻ vồn vã:
- Ðại thần hãy vào đây uống với trẫm một ly rượu, rồi trẫm sẽ giải thích vì sao trẫm đã truyền tha tội chết cho Thạnh Bảo.

Quan Ðại thần bất chấp cả nghi lễ tấn công ngay:
- Thần không thể ngồi uống rượu được, trong khi thằng giặc nguy hiểm nhất của triều đình đang còn sống. Tại sao Hoàng Thượng lại muốn "nuôi ong tay áo" một lần nữa. Hoàng Thượng đã tin cậy cha nó, để đến nỗi suýt bị nguy đến tánh mạng. Thời may vận nước chưa đến nỗi suy tàn, nên âm mưu lật đổ ngai vàng của cha nó bị khám phá kịp thời. Nhưng Hoàng Thượng đã nhổ cỏ mà không trừ tận gốc, nên đã để cho thằng con là Thạnh Bảo đem quân về làm loạn, ngai vàng bị lật đổ, thần dân bị điêu linh khổ sở. Nay tội trạng của nó đã đành rành, Hoàng Thượng lại vẫn tỏ ra khoan dung độ lượng với nó, làm cho tất cả triều đình, từ trên xuống dưới đều vô cùng phẫn uất, buồn tủi và nhất là lo sợ cho hậu hoạn còn đó.

Vua ngồi lắng nghe, không tỏ vẻ bực tức vì những câu trách móc ấy. Ngài ngập ngừng hồi lâu, trước khi cất tiếng với một vẻ mặt buồn buồn.

- Trẫm xin chịu lỗi với khanh về những việc làm của trẫm. Những lời của khanh nói, trẫm không chối cãi vào đâu được. Tuy thế khanh chưa hiểu rõ nguồn cơn sự việc đã xảy ra trong cung cấm này, nên khanh đã trách trẫm; nếu khanh hiểu rõ mọi việc từ đầu, chắc khanh sẽ có một nhận định khác. Từ lâu, trẫm chôn sâu câu chuyện này trong đáy lòng, nhưng không ngờ sáng hôm nay nghe Thạnh Bảo nhắc lại, làm trẫm vô cùng hối hận và tỉnh ngộ.

Câu chuyện này, khanh là người đầu tiên được biết đến, và trẫm nói ra đây cho khanh rõ, là vì trẫm xem khanh là người thân tín bậc nhất của trẫm ...

Hoàng Cái dần dần bị lôi kéo vì những lời nói có vẻ bí mật của vua, đã đổi sắc mặt, không còn bực tức như lúc đầu. Ðại tướng chăm chú lắng nghe vua mở đầu câu chuyện:
- Chắc khanh chưa quên câu chuyện Ông già bán bài học mà trẫm đã mua với giá môt ngàn lượng vàng. Sau khi mở bài học ra xem, trẫm nghĩ rằng trẫm đã bị lừa, nên trẫm vô cùng tức giận ...

Hoàng Cái tò mò hỏi:
- Thần có thể biết nội dung bài học nói gì không?
- Không có gì lạ, chỉ vỏn vẹn có một câu: "Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó". Trẫm tức giận ông già quá, nhưng không dám bộc lộ sự thật cho mọi người biết, vì sợ chê cười. Trẫm đã phao đồn ra là bài học rất qúy giá, và mọi người đều tin là thật. Nhưng một mặt khác, trẫm mật truyền cho quan Ðề Ðốc Thanh Phong phải đi bắt cho được Ông già về cho trẫm. Nhưng quan Ðề Ðốc không làm sao bắt cho được Ông già. Trẫm một phần vì tức giận, một phần vì sợ để quan Ðề Ðốc sống thì sự thật về bài học sẽ bại lộ, nên loan tin rằng quan Ðề Ðốc đã âm mưu lật đổ ngai vàng. Quan Ðề Ðốc bị xử tử bằng độc dược và chết trong ngục thất.
Thạnh Bảo không thể tin được rằng: cha mình đã âm mưu giết vua, vì hơn ai cả Thạnh Bảo biết rằng quan Ðề Ðốc là một trung thần được trẫm vô cùng tin cậy. Nóng lòng vì cha bị giết mà không rõ nguyên nhân và cũng để tự vệ, nó đã đem quân về triều làm loạn. Sự việc diễn tiến sau đó như thế nào, khanh cũng đã rõ. Có một điều quan trọng nhất mà hôm nay nó mới tiết lộ cho trẫm biết là: sau khi nó vào hoàng cung, nó mở cái tủ cẩm thạch mà trẫm đựng châu báu ngọc vàng, nó không thấy gì cả (vì trẫm đã đem đi hết) ngoài cái đãy có bài học của Ông lão. Nó đọc xong rồi bực tức xé mảnh giấy đi. Nó nghĩ rằng đó là một câu nói nhảm. Nhưng chính hôm nay, tại pháp trường, trước khi bị xử trảm, lời nói cuối cùng của nó nói với trẫm là nó đã ân hận: không nghe theo bài học. Nếu từ khi vào cung mà nó làm theo bài học, thì nó vẫn có thể hướng đến một hậu quả tốt đẹp, chứ không phải là cái hậu quả bị xử trảm tại pháp trường. Trẫm có hỏi nó: " Nếu khanh nghe theo bài học thì khanh sẽ làm gì?". Nó trả lời: Thần sẽ chống lại quân của nước Quý Lâm do Tùng Sơn chỉ huy và trả lại ngai vàng cho Hoàng Thượng". Trẫm lại hỏi: "Vậy tại sao khanh không làm như vậy?". Nó bảo: "Vì thần thấy khó mà đoán trúng hậu quả; vả lại trong khi đang có quyền lực trong tay, thần nghĩ rằng mình có thể thay đổi hậu quả theo mình muốn". Nghe Thạnh Bảo trả lời trẫm giựt mình, vì trẫm cũng đã nghĩ như vậy, khi mở bài học ra xem lần đầu tiên, trẫm đã ruồng bỏ bài học của Ông già nên trẫm đã mất ngôi và suýt mất luôn cả tánh mạng. Và chính trẫm là người đã gây nên tội đối với cha con Ðề Ðốc Thanh Phong. Vì nghĩ như vậy, nên trẫm đã truyền tha tội chết cho Thạnh Bảo.

Quan Ðại thần Hoàng Cái nghe xong ngồi trầm ngâm suy nghĩ, và nỗi bực tức lúc đầu tan biến dần mất.

Hoàng Cái và vua Ðột Quyết ngồi nhìn nhau, không ai nói với ai một lời, nhưng đây là một sự im lặng đầy suy tư, rất cần thiết cho mọi hành động. Hồi lâu vua cất tiếng hỏi:
- Theo ý Ðại thần, thì đại thần có nghĩ rằng nên tha tội chết cho Thạnh Bảo chăng?

- Tâu Hoàng Thượng, nếu quả thực ssụ việc đã xảy ra như vậy thi không những nên tha chết cho Thạnh Bảo mà còn nên tạo cho nó nhiều cơ hội đoái công chuộc tội nữa. Nhưng dù sao đó cũng là công việc nhỏ. Thần nghĩ đến một vấn đề quan trọng hơn, là bài học này hay lắm! Nếu Hoàng Thượng và Thạnh Bảo biết áp dụng bài học này thì chẳng những không có những tai hại lớn lao vừa xảy ra, mà còn đem lại sự ích lợi cho quốc gia dân tộc và cá nhân của Hoàng Thượng, của Thạnh Bảo vô cùng vô tận. Vậy thì bây giờ phải làm thế nào đem bài học quý báu của ông già ra áp dụng ...

Vua Ðột Quyết bỗng như sực nhớ điều gì, vội cắt ngang câu nói của Hoàng Cái:
- Câu nói của Ðại thần nhắc lại làm cho trẫm nhớ lời dặn của ông lão là "phải áp dụng bài học mới rõ giá trị chơn thật của nó". Nhưng làm thế nào để áp dụng bài học này một cách triệt để trong mọi công việc?
- Tâu, nếu thật tình Hoàng Thượng muốn áp dụng một cách triệt để, thì trước tiên phải làm sao luôn luôn nhớ đến bài học ấy.

- Một câu ngắn ngủi như vậy, có khó gì đâu mà không nhớ?
- Tâu, vì ngắn ngủi, vắn tắt và đơn giản quá, cho nên chúng ta khinh thường, không chú ý đến. Thần nghĩ có cách hay nhất để bài học luôn luôn hiện diện trước mắt mọi người là nên ghi khắc nó khắp nơi trên mọi vật dụng.

Mắt vua Ðột Quyết bỗng sáng lên và ngài nhận thấy sáng kiến của Hoàng Cái rất hay. Ngài nói có vẻ mùng rỡ:
- Ðó là một ý kiến rất quý báu, Trẫm phải truyền lịnh thực hành ngay tại trong hoàng cung này.

Thế là vua truyền lịnh cho quan nội giám tìm các nhà giáo viết chữ thật đẹp, để viết bằng đủ các lọai chữ từ lớn đến nhỏ, và tuyển mộ các nhà điêu khắc, các thợ mộc, thợ nề, thợ vẽ, thợ sơn, thợ chạm để tùy theo vị trí, địa điểm, nhà cửa, phòng the, vật dụng mà ghi khắc, chạm trổ bài học của Ông già vào ...

Thợ thầy, lính tráng trong cung nổ lực làm việc sau một tháng mới xong.
Ðể đánh dấu ngày phát động phong trào áp dụng bài học và gây một xúc động tâm lý trong triều đình và cung điện, vua truyền tổ chức đại lễ để tạ ơn trời đất thánh thần đã xui khiến cho Ông già đem bán bài học cho vua rồi biến mất.

Trong buổi lễ có sự tham dự của toàn thể bá quan văn võ. Vua Ðột Quyết, trong bộ lễ phục đại trào, đã quỳ lạy một cách vô cùng thành kính trước hương án, để ăn năn sám hối tội lỗi của mình từ trước đã suýt làm cho nước mất nhà tan, cơ đồ sụp đổ. Sau đó, vua quay mặt xuống phía bá quan văn võ, tường thuật tất cả sự thật về bài học của Ông già mà từ trước đến nay vua đã che đậy. Cũng trong dịp này, vua tuyên bố ân xá tội trạng của Thạnh Bảo và cho trở về làm dân dã. Cuối cùng vua long trọng phát nguyện tuân theo bài học của Ông già và khuyên bá quan văn võ nên bắt chước theo ngài mà áp dụng bài học ấy. Buổi lễ chấm dứt sau sự trình bày các loại vật dụng trong hoàng cung có ghi khắc bài học ngàn vàng.


CHƯƠNG VI


QUAN NGỰ Y VÀ BÀI HỌC NGÀN VÀNG

Quan ngự y Thái Hòa len lén đóng kín cửa phòng lại. Mặc dù các của phòng đều đóng kín cả rồi. Quan vẫn nhìn quanh nhìn quẩn xem có ai rình ngó mình ở đâu đó không. Bốn bề đều im lặng. Từ ngày vua Ðột Quyết đau nặng đã hơn hai tháng nay, trong cung điện không có tiếng đàn tiếng hát đã đành, mà tiếng cười tiếng nói cũng vắng bặt. Sự vắng lặng làm cho quan ngự y rờn rợn! ... Ba lần quan lần tay vào chéo áo, ba lần quan để chéo áo xuống. Thực ra viên độc dược chỉ nhỏ bằng hạt tiêu, khó cho ai có thể nhận ra được, nhưng khi người ta có gian ý thì một cử chỉ nhỏ nhặt, người ta cũng e ngại, giữ gìn. Nồi thuốc nấu từ sáng đến giờ đã sắp được. Chỉ cần lấy viên độc dược trong chén áo bỏ vào nồi nữa là xong. Nhưng cử chỉ nhỏ nhặt ấy mà khó khăn quá chừng! Có lẽ vì khó khăn như vậy nên vua Quý Lâm mới thuận trả giá cho quan ngự y bằng một nàng Công chúa đẹp và một nữa giang sơn nước Nhục Chi!

Nguyên là vua nước Quý Lâm, sau khi cho tướng Tùng Sơn đêm một trăm ngàn quân sang xâm chiếm nước Nhục Chi, bị hoàn toàn thất bại, nên nuôi chí phục thù, nhưng chưa có cơ hội. Nhân được tin thám báo cho biết vua Ðột Quyết đau nặng, vua Quý Lâm vô cùng mừng rỡ, hội tướng lãnh để bàn mưu đem quân sang đánh. Nhưng các tướng cẫn còn kỷ niệm đau thương của cuộc thất bại trước, nên tỏ vẻ e dè. Do đó, quan Tể tướng mới kiếm kế mua chuộc quan ngự y Thái Hòa bỏ thuốc độc cho vua Ðột Quyết chết rồi sẽ đem quân xâm chiếm sau. Quan Tể tướng cho người thân tín giả làm nhà buôn đem quế sang bán cho quan ngự y và đưa thư thuyết phục vị lương y được vua tín cẩn ấy. Thái Hòa ban đầu còn do dự, nhưng khi được sứ giả của quan Tể tướng đưa bức tranh vẽ chân dung của Công chúa nước Quý Lâm cho xem, thì không còn đủ nghị lực để từ chối. Cuối cùng quan ngự y đã nhận viên độc dược vô cùng mãnh liệt của sứ giả và hứa sẽ thi hành kế hoạch của quan Tể tướng nước Quý Lâm. Một tờ cam kết đã được thảo ra giữa hai người và mỗi người cất giử một bản để làm tin.

Sứ giả đã trở về, và quan ngự y vào cung chế thuốc như mọi ngày, chỉ khác là hôm nay có mang theo viên thuốc độc trong chén áo.

Có một lúc quan ngự y đã định ném viên thuốc qua cửa sổ cho mất tang tích, nhưng sực nhớ tờ cam kết đang còn trong tay viên sứ giả, nếu mình không thi hành, thì thế nào quan Tể tướng cũng trả thù bằng cách tiết lộ tờ cam kết ấy cho triều đình nước Nhục Chi hay. Khi ấy đã mất vợ đẹp, mất nửa giang sơn gấm vóc, mà còn lại bị tru di cả ba họ vì tội mưu giết vua.

Nghĩ như vậy, quan ngự y cương quyết lần viên độc dược ở trong chén áo ra, lanh lẹ dỡ nắp nồi thuốc bỏ vào. Chỉ một cử chỉ nhỏ nhặt như vậy thôi mà nãy giờ cứ do dự chần chừ mãi!

Quan thấy nhẹ nhõm trong người, đứng dậy ra mở cửa, và đi qua đi lại trước hành lang đợi giờ đem thuốc vào cho vua uống. Quan nhìn ra ngoài vườn thượng uyển. Cảnh trí thật là đẹp dưới ánh sáng mờ ảo của hoàng hôn. Quan nghĩ thầm: cung điện này vài hôm nữa sẽ về tay ta. Bây giờ ta là một ngự y không quyền thế, nhưng một này kia tất cả cung phi mỹ nữ sẽ ở dưới quyền sử dụng của ta; bọn đình thần mấy lâu nay khinh bạc ta, sẽ quỳ lạy dưới tay ta. Thật không ngờ vận mệnh con người thay đổi mau lẹ như vậy ...

Vào 7 giờ tối, như mọi ngày một viên thị vệ đến mời quan ngự y đem thuốc vào cho vua uống! Quan ngự y bảo viên thị vệ lấy nồi thuốc đổ vào bát sành, đặt khay vàng và bưng vào phòng vua, còn mình thì theo sau.
Viên thị vệ quỳ đặt khay thuốc trên chiếc án, chân quy trước long sàng và lui ra. Quan ngự y vái chào vua và đứng dưới chân giường đợi lệnh. Vua chỉ một chiếc ghế và bảo quan ngự y ngồi xuống.

Vua đưa tay bảo:
- Khanh xem mạch cho trẫm hôm nay có khá hơn mọi hôm không? Có thể cho trẫm biết độ bao giờ thì bệnh khỏi hẳn. Và nếu có mệnh hệ gì cũng đừng giấu trẫm làm gì. Hãy để cho trẫm có thì giờ chuẩn bị ...
Viên ngự y đặt tay nhà vua lên một tấm khăn rồi quỳ xuống bắt mạch. Vua cảm thấy mấy ngón tay của quan ngự y rung nhè nhẹ trên cổ tay mình. Ngài chăm chú nhìn vào mặt quan ngự y và quan ngự y có vẻ như muốn tránh nhìn mình. Vua gợi chuyện hỏi han về thân thế và gia đình vị lương y:
- Khanh năm nay bao nhiêu tuổi?
- Tâu , năm mươi hai ...
- Vậy là thua trẫm hai tuổi. Chẳng mấy chốc mà đã qua nửa đời người rồi! Nhiều khi trẫm ân hận là chưa làm gì được cho dân cho nước mà đã sắp lìa trần rồi!

Tay quan ngự y rung mạnh trên cổ tay của nhà vua. Vua lại tiếp:
- Khanh ạ! Trẫm chưa muốn chết quá vội. Khanh hãy làm sao chữa cho trẫm lành bệnh nhé!

Quan ngự y "dạ" một tiếng nhỏ trong cổ họng và cúi mặt nhìn xuống chén thuốc để trên chiếc khay vàng. Bỗng mắt vị lương y như bị thôi miên vì mấy chữ chạm trên chiếc khay và trên thành bát thuốc: "Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó". Vị lương y có cảm tưởng choáng voáng như đầu của mình vừa bị húc vào tường. Mấy chữ vẫn nằm im lặng ở đấy, mà quan ngự y nghe như tiếng quở trách đang vang dội khắp nơi và cả trong đầu óc của mình. Quan ngự y tự hỏi:
"Ta đang làm gì đây? Ta bỏ thuốc độc cho vua. Vua sẽ uống chén thuốc và chết trong vài giờ sau. Âm mưu giết vua thế nào cũng bại lộ. Ta sẽ bị quan đại thần Hoàng Cái bắt và chém đầu. Cả gia đình dòng họ ta chắc cũng không thoát khỏi án tử hình. Họ Thái sẽ tuyệt diệt, nhưng tiếng xấu vẫn lưu lại muôn đời. Ta làm một việc ác lớn lao, chắc chắn ta sẽ thâu nhận một hậu quả vô cùng tai hại!"

Trong khi suy nghĩ như vậy, mấy ngón tay quan ngự y vẫn nằm im trên cổ tay nhà vua, và vua vẫn để yên tay mình dưới tay quan ngự y, nhưng đôi mắt vẫn theo dõi, quan sát từng cử chỉ, từng sự biến chuyển trên nét mặt suy tư của quan ngự y.

Hồi lâu, vua cất giọng yếu ớt hỏi:
- Khanh xem mạch trẫm thế nào? Sắp nguy chưa?
Quan ngự y nhu sực tỉnh, tâu vẻ bối rối:
- Tâu, tâu Hoàng Thượng ... mạch rất tốt, rất tốt ...
Vua mỉm cười héo hắt:
- Thế ạ! Trẫm cảm ơn khanh. Bây giờ trẫm uống thuốc nhé!
Vua vừa nói vừa ngồi dậy với bưng bát thuốc. Quan ngự y hốt hoảng cản tay vua lại, nói:
- Xin Hoàng Thượng hãy khoan ...
Vua ngạc nhiên hỏi:
- Sao vậy? Sao khanh lại không cho ta uống?
Quan ngự y quỳ xuống, van lạy:
- Tâu Hoàng Thượng, thần xin Hoàng Thượng rộng lượng tha tội cho thần! Bát thuốc có độc dược!
- Sao vậy?

Nhà vua vô cùng kinh ngạc, hỏi lại:
- Khanh định giết trẫm thật sao?
- Muôn tâu Hoàng Thượng, hạ thần đã bị vô minh dục vọng làm mờ ám lương tâm, nhưng nay sực nhìn thấy bài học ngàn vàng khắc trên khay và trên bát thuốc mà thần tỉnh ngộ. Tội thần đáng chết, xin Hoàng Thượng hãy truyền lịnh hạ ngục đi.

Vua trầm ngâm suy nghĩ một hồi, rồi từ tốn phán:
- Thật quả tội khanh đáng chết. Nhưng khanh đã hối hận kịp thời trước khi tội ác xảy ra, nên trẫm tha tội cho khanh. Từ nay về sau hãy hết lòng tận trung với trẫm.

Quan ngự y dập đầu vái lạy và quỳ bên chân nhà vua, vô cùng xúc cảm không cầm được nước mắt! ...

Bệnh của nhà vua tự nhiên thuyên giảm rất nhiều, mồ hôi ngài toát ra ướt dầm áo bào,và cảm nghe trong người nhẹ nhõm. Nhà vua mừng quá, tự bảo: Bài học này quý lắm! Một ngàn lượng vàng còn rẻ! Nhờ bài học này mà quan ngự y được hối ngộ khỏi bị tội tử hình và tru di tam tộc; nhờ bài học này mà nước nhà khỏi mất, dân ta không làm nô lệ cho ngoại bang và cũng nhờ bài học này mà tánh mạng ta khỏi chết. Thật là "Bài học vô giá!"
Nhờ sự vui mừng đó nên trong người vua phấn khởi, khoan khoái mà bịnh ngài dần dần thuyên giảm.
Thích Thiện Hoa
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
macvophong (21-02-2011), nguyen anh (30-04-2009)
Lòng Từ Bi và Con Người
Old 19-09-2009, 10:19 am  
dung9610
Senior Member
 

Default Lòng Từ Bi và Con Người
Lòng Từ Bi và Con Người (Dalai Lama)



Dịch giả : Mỹ Thanh




Một câu hỏi quan trọng nằm chôn vùi dưới kinh nghiệm của chúng ta, cho dù chúng ta biết đến nó hay không biết, đó là : Cuộc sống có ý nghĩa gì không?

Tôi có nghĩ về điều nầy và muốn được chia xẻ với mọi người những gì tôi nghĩ, với hy vọng là những điều nầy có thể đem lại ích lợi thiết thực cho những ai đọc qua bài nầy.

Tôi tin rằng ý nghĩa của cuộc sống là hạnh phúc. Từ lúc sanh ra đời, mỗi người trong chúng ta đều muốn hạnh phúc và tránh đau khổ. Không một điều kiện xã hội hay giáo dục, hoặc một lý tưởng nào có thể làm lệch lạc sự mong muốn nầy.

Từ trong tâm thức của con người chúng ta, tất cả đều muốn được an vui, hạnh phúc. Tôi không biết vũ trụ với vô số tinh tú, ngân hà & thế giới có ý nghĩa gì sâu sắc hay không; nhưng ít nhất, chúng ta cũng thấy rõ rằng con người sống trên trái đất nầy có nhiệm vụ làm cho cuộc sống của mình hạnh phúc. Vì vậy, điều quan trọng là khám phá ra điều gì sẽ mang lại hạnh phúc nhiều nhất.

Làm thế nào để đạt hạnh phúc


Hãy bắt đầu chia hạnh phúc và khổ đau làm hai phần chánh : Tinh thần, và thể xác. Trong hai phần nầy, tinh thần có ảnh hưỏng nhiều nhất nơi chúng ta.

Trừ khi chúng ta bệnh nặng hoặc bị đói khát, cơ thể chúng ta chỉ là phần phụ thuộc trong cuộc sống nầy. Nếu cơ thể tráng kiện, chúng ta không hề để ý đến nó. Tinh thần thì khác, nó ghi chú mọi việc, dù nhỏ nhặt đến đâu. Vì vậy chúng ta phải hết lòng cố gắng làm sao cho tinh thần mình được an lạc.

Trong kinh nghiệm giới hạn của tôi, tôi thấy rằng sự an lạc tột cùng là khi chúng ta làm tăng trưởng tình thương và lòng từ bi.

Lúc mà ta lo cho hạnh phúc của mọi người, là lúc mà chính ta đang hưởng hạnh phúc. Làm tăng trưởng lòng từ một cách tự động, là làm cho tinh thần được bình an. Điều nầy giúp ta dẹp sợ hãi và lo lắng, và giúp ta sẵn sàng đối phó với những trắc trở của cuộc đời. Đây là sự thành công tối hậu trong cuộc sống.

Khi mà ta còn sống trong thế giới nầy, là ta vẫn còn có vấn đề. Trong trường hợp gặp khó khăn, nếu chúng ta đánh mất hy vọng và trở nên chán nản, thì ý chí phấn đấu của chúng ta sẽ bị giảm đi. Ngược lại, nếu chúng ta nhớ rằng mọi người chung quanh đều phải trải qua đau khổ, thì cái nhìn thực tế nầy sẽ làm tăng ý chí và khả năng của chúng ta, để chúng ta đối phó với nghịch cảnh.

Thật ra, với thái độ nầy, mỗi khó khăn gặp phải, được xem như là một cơ hội ngàn vàng để chúng ta làm tăng trưởng phần tinh thần của chính mình.

Do đó, chúng ta phải tranh đấu dần dần để trở nên từ bi hơn, như vậy chúng ta mới có thể phát triển tình thương và giúp đỡ những ai đang đau khổ. Kết quả là sức mạnh nội tâm và sự thanh thản của chúng ta được tăng lên.

Chúng ta cần Tình thương


Lý do tại sao tình thương và lòng từ bi được xem như là điều hạnh phúc nhất, bởi vì trong tâm khảm mỗi chúng ta đều mong muốn được thương yêu. Tình thương rất cần thiết cho sự sinh tồn của con người. Đó là mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau rất sâu sắc giữa con người với con người. Không cần biết là người đó có khả năng như thế nào và cho dù người đó có giỏi đến đâu đi nữa, kẻ đó cũng không thể sống sót nếu chỉ có một mình. Một người có thể khỏe mạnh, tráng kiện đến mức tối đa trong một khoảng thời gian nào đó, nhưng một khi ngã bệnh hay lúc quá nhỏ, hoặc quá già, ta vẫn phải cần sự giúp đỡ của những người chung quanh .

Sự liên hệ phụ thuộc lẫn nhau là điều căn bản của luật tạo hóa. Không phải chỉ có loài người , kể cả những côn trùng nhỏ bé nhất, không có tôn giáo, hay luật lệ, chúng vẫn phải nương tựa vào nhau để mà được sống còn. Cả đến hiện tượng vật chất nhỏ bé nhất cũng phải bị chi phối bởi luật " phụ thuộc lẫn nhau" (interdependence).

Những hiện tượng trên trái đất như : mây, biển, rừng, hoa lá cũng được cấu tạo bởi những năng lượng phụ thuộc lẫn nhau. Không có những năng lượng nầy, thì chúng tan hoại ngay.

Bởi vì đời sống của con người là phụ thuộc lẫn nhau, cho nên đây là một điều tự nhiên khi ai ai cũng cần tình thương. Vì vậy chúng ta cần ý thức trách nhiệm của mình trong việc đem lại an vui cho mọi người.

Nên hiểu rằng những thiếu thốn hay đau khổ của con người là thuộc về phần tinh thần vì thế chúng không thể giải quyết được bằng máy móc tinh vi, vì vậy thật là một điều sai lầm khi ta tìm kiếm hạnh phúc bằng những thứ bên ngoài.

Chúng ta nên nhìn lại để tìm kiếm cho đúng thứ mà ta cần cho hạnh phúc.

Nếu bỏ qua câu hỏi rắc rối về tạo hóa và sự tiến triển của vũ trụ, chúng ta ít ra cũng đồng ý rằng mỗi chúng ta là một sản phẩm của cha mẹ chúng ta. Thông thường, mỗi chúng ta có mặt nơi đây là vì cha mẹ chúng ta muốn nuôi dưỡng một đứa con cho đến lúc nó trưởng thành và có thể tự lập. Vì vậy, ngay từ phút đầu thọ thai, tình thương của cha mẹ dành cho chúng ta bắt nguồn từ lúc đó.

Hơn nữa chúng ta hoàn toàn nương tựa vào sự săn sóc của mẹ chúng ta ngay từ lúc ban đầu. Theo các khoa học gia, tinh thần của người mẹ trong lúc mang thai có ảnh hưởng rất nhiều đến đứa trẻ trong bụng.

Sự thể hiện tình thương cũng rất quan trọng lúc đứa trẻ ra đời. Ngay từ buổi đầu việc đầu tiên chúng ta làm là tìm vú mẹ, chúng ta tự nhiên thấy gần với mẹ, và mẹ chúng ta phải cảm nhận được tình thương đó bà mới có thể lo bú mớm cho chúng ta một cách tốt đẹp; nếu bà cảm thấy tức giận hay bực tức thì sữa sẽ chảy không đều.

Kế đến là lúc tuổi khoảng 3 hay 4, đây là khoảng thời gian rất quan trọng cho việc phát triển bộ óc; trong lúc nầy, sự gần gủi săn sóc rất cần cho sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Nếu đứa trẻ không được ôm vào lòng, không được trìu mến thương yêu thì sự phát triển của bộ óc đứa trẻ sẽ bị hư hao hoặc kiếm khuyết.

Đứa trẻ không thể sống sót nếu không có sự chăm nom của người khác, vì vậy tình thương là món ăn cần thiết để nuôi dưỡng trẻ. Hạnh phúc của tuổi ấu thơ, đều nhờ vào tình thương, nhờ có tình thương, mà đứa trẻ dẹp được những nỗi lo sợ và trưởng thành một cách lành mạnh.

Hiện tại có bao đứa trẻ lớn lên trong những gia đình không hạnh phúc. Nếu chúng không được thương yêu trọn vẹn, thì sau nầy chúng ít khi nào thương được bố mẹ chúng, và thường thì, những đứa trẻ nầy không hiểu được thế nào là thương người khác. Thật là đáng điều đáng buồn!

Khi đứa trẻ lớn lên và đến trường, chúng cần sự nâng đỡ nơi thầy, cô. Thầy, cô không phải chỉ có truyền đạt kiến thức mà còn phải chịu trách nhiệm về việc chuẩn bị cho đứa trẻ bước vào đời. Học sinh phải cảm nhận được sự tin cậy, và kính trọng, những gì chúng học được nơi thầy cô sẽ là một dấu ấn khó phai.

Ngược lại, nếu thầy cô chỉ lo dạy về môn học mà không để ý gì đến tánh tình, hạnh kiểm của học sinh thì thầy cô đó khó có thể dạy học lâu dài , họ chỉ có thể dạy trong một thời gian ngắn thôi .

Cũng như khi một người bệnh, gặp bác sĩ tận tâm, niềm nở, nhất là sự mong muốn họ mau khỏi bệnh, nhờ vậy họ cảm thấy thoải mái với sự ân cần của y sĩ , người nầy sẽ dễ dàng khỏi bệnh. Ngược lại, nếu bác sĩ giỏi nhưng không tận tâm, không ân cần, niềm nở, dù thuốc hay, nhưng vì bệnh nhân không thoải mái nên việc lành bệnh cũng không mau chóng.

Kể cả khi chúng ta nói chuyện thường ngày, nếu có người nói chuyện ân cần, thân mật, thì tức khắc chúng ta cảm thấy muốn nghe, và muốn tiếp chuyện; câu chuyện sẽ trở nên hấp dẫn hơn, cho dù đề tài không hay. Ngược lại, nếu một người nói chuyện lạnh nhạt hay trả lời nhát gừng, chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu và muốn mau mau kết thúc câu chuyện. Từ việc nhỏ cho đến việc lớn, hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào tình cảm và sự quan tâm của người chung quanh.

Vừa rồi, tôi có gặp những khoa học gia ở Mỹ, họ bảo là mức độ về bệnh tâm thần ở đất nước họ đã tăng khoảng mười hai phần trăm trong dân số. Trong buổi bàn cãi, chúng tôi nhận ra rằng bệnh tâm thần không phải do thiếu thốn vật chất mà ra, mà lý do chánh là vì thiếu tình thương, thiếu tình thân ái giữa con người với con người.

Qua những gì tôi viết trên đây, một điều chắc chắn rõ ràng là : cho dù chúng ta có nhận thức được hay không về điều nầy, sự cần thiết tình thương đã nằm sẵn trong huyết quản của chúng ta ngay từ buổi ban đầu. Người lớn và trẻ em đều hướng đến tình thương, cho dù tình thương đó được mang đến từ một con vật hay từ một người mà bình thường ta vẫn xem như là thù địch.

Tôi tin rằng không một ai sanh ra mà không cần tình thương. Vài trường Triết đã công nhận rằng con người không phải chỉ thuần là thể xác. Tinh thần là chủ động trong việc cảm nhận được cái đẹp, cái quý giá, làm cho chúng ta có thể thương yêu.

Phát triển lòng từ

Vài người bạn của tôi nói rằng, tình thương và lòng từ bi rất tốt đẹp và kỳ diệu, nhưng chúng không có chỗ đứng trong thế giới của chúng ta, nơi mà lòng sân hận và thù hằn là một phần của con người, và như vậy chúng ta luôn bị sân hận làm chủ. Điều nầy tôi không đồng ý.

Con người chúng ta hiện hữu với hình hài nầy trong khoảng gần một trăm ngàn năm. Tôi tin rằng trong khoảng thời gian đó nếu tinh thần chúng ta bị sân hận làm chủ thì dân số của con người đáng lý phải bị giảm đi. Nhưng cho đến hôm nay, dù có những trận chiến, dân số con người vẫn gia tăng hơn bao giờ hết.

Điều nầy chứng tỏ rằng, tình thương và lòng từ vẫn chiếm ưu thế. Vì vậy, những việc không hay là"tin tức", những việc làm từ bi trong đời sống hàng ngày bị coi như là điều tất nhiên, và phần lớn bị lờ đi.

Theo kinh nghiệm của riêng tôi, thì sự thăng bằng về mặt tinh thần và cơ thể mạnh khỏe có liên hệ mật thiết. Sự khích động và tức giận dễ làm chúng ta nhiễm bệnh . Ngược lại, nếu tinh thần yên tịnh và tràn đầy những ý nghĩ tốt lành thì cơ thể ít có cơ hội bị bệnh hoạn tấn công.

Muốn được hạnh phúc chân thật thì cần phải có một tinh thần an lạc, và để được tinh thần an lạc, cần phải có lòng từ bi, làm sao để chúng ta phát triển được lòng từ ? Chỉ nghĩ đến lòng từ bi thôi cũng chưa đủ, chúng ta phải làm sao để chuyển hóa tâm niệm và hành động của mình trong đời sống hàng ngày .

Trước hết, chúng ta phải biết rõ từ bi nghĩa là gì. Lòng từ cũng có nhiều hình thức và lắm lúc lẫn lộn với bám víu và ham muốn. Chẳng hạn, tình thương của cha mẹ dành cho con cái thường có liên quan đến những nhu cầu tình cảm của riêng họ, vì vậy tình thương không được hoàn toàn từ bi. Cũng vậy trong hôn nhân, tình thương giữa hai vợ chồng--nhất là lúc ban đầu, lúc mà cả hai chưa rõ những cá tánh sâu sắc của nhau--tình thương dựa vào bám víu hơn là đơn thuần thương yêu. Vì dục vọng của chúng ta quá mạnh nên người hôn phối dù có tánh xấu, dưới mắt ta lúc bấy giờ người ấy thật là hoàn hảo. Hơn nữa, ta lại có khuynh hướng khuếch trương những điều tốt nho nhỏ. Do đó, khi mà tánh tình một trong hai người thay đổi thì người kia cảm thấy thất vọng vì chính tánh tình họ cũng có đổi thay. Đây là điều cho ta thấy tình yêu được thúc đẩy bởi những nhu cầu của cá nhân hơn là vì thương yêu kẻ khác.

Lòng từ bi chân thật không phải là một thứ tình thương có qua có lại, mà là một sự cam kết chắc chắn dựa trên lý trí. Vì vậy, cho dù kẻ thọ nhận cư xử không tốt, một hành động từ bi thật sự sẽ không hề thay đổi .

Dĩ nhiên là phát triển lòng từ bi chân thật sẽ không phải là một việc dễ dàng. Lúc bắt đầu thực tập, chúng ta nên nhìn vào những điểm sau đây :

Dù người đẹp hay người xấu, người dễ thương hay kẻ phá hoại, chúng ta đều là con người như nhau cả. Và vì là con người nên chúng ta đều muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ. Hơn nữa, mỗi người có quyền tự do riêng để tránh đau khổ và hưởng sung sướng. Bây giờ bạn chấp nhận là tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc, và vì vậy bạn sẽ tự dưng cảm thông được với mọi người và cảm thấy gần gủi họ hơn. Thực tập điều nầy sẽ làm cho tinh thần bạn cảm nhận được tình vị tha, và bạn sẽ phát triển được lòng tôn kính nơi mọi người chung quanh : muốn giúp họ bớt khổ đau. Vì là con người nên ai ai cũng phải trải qua những kinh nghiệm vui, buồn, sung sướng và đau khổ, vì vậy không lý do gì bạn lại không thương được những người có những hành động ích kỷ.

Trong khả năng của chúng ta, để thực tập lòng từ bi, chúng ta phải cần có kiên nhẫn và thời gian. Tận trong tiềm thức của chúng ta, lúc nào cái "Tôi" cũng chiếm ưu thế, và vì cái "Tôi" đó mà lòng từ bị giới hạn. Thật ra lòng từ bi chân thật chỉ được thể hiện khi mà cái "Tôi" bị diệt bỏ. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta không làm chi được, cái gì cũng có bắt đầu, thực tập và tiến triển là điều có thể làm được.

Làm thế nào để bắt đầu


Để bắt đầu, chúng ta phải loại bỏ sân hận. Như chúng ta đã biết, sân hận là những năng lực tình cảm rất mạnh, chúng có thể hoàn toàn áp đảo tinh thần chúng ta. Nhưng chúng ta có thể làm chủ được chúng. Nếu không, chúng sẽ làm cho ta bị điêu đứng và việc tìm kiếm hạnh phúc với một tinh thần thương yêu sẽ khó mà thực hiện được.

Trước hết, hãy khám xét xem cái giận có tốt không. Đôi lúc, khi chúng ta chán nản vì một hoàn cảnh nào đó, cái giận dường như giúp chúng ta mạnh hơn, tự tin hơn và có quyết tâm. Lúc nầy, chúng ta phải kiểm điểm trạng thái tinh thần của mình một cách cẩn trọng. Thật sự cái giận cho ta thêm năng lực, nếu chúng ta khảo sát tỉ mỉ năng lượng của cái giận, ta khám phá ra rằng năng lượng nầy rất là mù quáng : chúng ta không biết được kết quả của nó sẽ là tốt hay xấu.

Bởi vì cái giận che lấp đi phần duy lý của bộ óc. Vì vậy năng lượng của cái giận không thể được tín nhiệm. Nó có sức hủy hoại rất lớn và tạo nên nhiều hành động đáng tiếc. Hơn nữa, nếu cái giận tăng lên đến mức tối đa, thì một người sẽ trở nên điên loạn, làm những việc có hại cho mình và cho người.

Tuy nhiên, chúng ta có thể phát triển một năng lượng khác cũng mạnh nhưng kiềm chế được để mà thích ứng với hoàn cảnh khó khăn.

Năng lượng nầy có được phát xuất từ cách cư xử với lòng từ bi, sự kiên nhẫn và lý trí. Đây là những thuốc giải hiệu nghiệm cho việc chữa trị cái giận. Đáng tiếc thay, bao người hiểu nhầm về những điều nầy, và cho đấy là biểu tượng của sự hèn nhát, yếu đuối. Tôi thì nghĩ ngược lại : chúng chính là những dấu hiệu cho một sức mạnh nội tâm. Trạng thái tự nhiên của lòng từ bi là sự dịu dàng, hòa nhã, mềm mỏng, nhưng có năng lượng rất mạnh mẻ. Những kẻ dễ tức giận là những người thiếu kiên nhẫn, dễ bất an và không ổn định. Do đó, đối với tôi, sự tức giận là một dấu hiệu của yếu đuối.

Vì vậy, khi vấn đề xuất hiện, nên cố gắng giữ bình tĩnh, với một hành động chân thành cho kết quả được công bằng. Dĩ nhiên là sẽ có những kẻ lợi dụng bạn, khi bạn giữ không bám víu, và hành vi nầy chỉ khuyến khích họ thêm hung hăng, thì bạn phải lên tiếng cho họ biết quan điểm của mình, và nếu cần thì tìm biện pháp để đối phó, nhưng tuyệt nhiên hành động không có sự tức giận hay ác ý ẩn bên trong.

Bạn nên hiểu rằng, cho dù kẻ đối nghịch đang hảm hại bạn, cuối cùng thì hành động nầy cũng chỉ gây hại cho chính họ thôi. Để kiểm soát sự trả đũa của bạn vì íck kỷ, bạn cần phải kêu gọi đến lòng mong muốn thực tập hạnh từ bi, và nhờ đó mà cố gằng giúp đỡ kẻ kia khỏi bị khổ não do chính hành động không hay của họ gây ra.

Hành động trả đũa thường dựa trên năng lực giận dữ với sự mù quáng cho nên sẽ không có kết quả tốt. Vì thế, khi bạn chọn lựa cách đối phó một cách từ tốn, có ích lợi cho cả đôi bên thì kết quả sẽ chính xác, có hiệu lực hơn.

Bạn và kẻ thù


Tôi muốn nhấn mạnh rằng chỉ suy nghĩ về : lòng từ, sự kiên nhẫn sẽ không ích lợi gì nếu bạn không thực tập chúng. Muốn thực tập những điều nầy thì hay nhất là những lúc khó khăn xuất hiện, hãy thử thực tập chúng.

Và ai là người cho ta những cơ hội khó khăn để thực tập? Dĩ nhiên là không phải bạn chúng ta, mà là kẻ thù của chúng ta. Họ là những người gây cho ta nhiều khó khăn nhất. Và nếu ta thật sự muốn học hỏi thì hãy xem kẻ thù như là những người thầy giỏi nhất!
Người thực tập hạnh từ bi và tình thương, cần phải thực tập luôn sự khoan dung, và như vậy thì , kẻ thù không thể thiếu được. Chúng ta phải cảm ơn kẻ thù, vì nhờ họ mà chúng ta phát triển được sự an bình của tinh thần. Thêm nữa, trong những trường hợp thuộc cá nhân hay công cộng có một thay đổi, kẻ thù cũng có thể trở thành bạn.

Sân hận rất có hại, chúng ta cần phải thực tập để làm giảm bớt năng lực của chúng nơi phần tinh thần, nếu không chúng sẽ tiếp tục làm phiền và gây khó khăn cho ta trong việc thực tập sự an lạc. Sân, Hận là kẻ thù thật sự của chúng ta. Đây là những năng lực mà chúng ta cần phải đối phó.

Thật là tự nhiên khi chúng ta ai ai cũng muốn có bạn. Tôi hay nói đùa là nếu bạn thật sự muốn ích kỷ, thì bạn cần phải nên vị tha. Bạn cần phải giúp đỡ, săn sóc mọi người, lo cho họ, làm bạn với họ, mang lại nụ cười cho họ. Kết quả ?
Khi mà cần sự giúp đỡ, bạn sẽ tìm thấy bao là người sẵn sàng! Ngược lại nếu bạn không lo gì đến hạnh phúc của kẻ khác, sau nầy bạn sẽ là kẻ thua thiệt.

Có người nói tình bạn hay mang đến cãi vã, giận dữ, ganh tyﬠvà tranh dành ? Tôi không đồng ý về điểm nầy. Tôi nhận thấy chỉ có tình thương mới mang lại cho chúng ta những người bạn thân đúng nghĩa.

Trong xã hội vật chất hiện nay, nếu bạn có tiền và có địa vị, thì dường như bạn có rất nhiều bạn. Nhưng họ đâu phải là bạn của bạn, họ là bạn của tiền và địa vị của bạn. Khi mà bạn trắng tay, mất hết quyền lực thì không còn tìm ra những người bạn nầy nữa, họ biến mất .

Thực tế thì khi mọi việc hanh thông, chúng ta cảm thấy tự tin và có thể tự lo, chúng ta cảm thấy mình không cần bạn; nhưng khi địa vị và sức khỏe suy dần, thì chúng ta mới biết là mình lầm. Lúc ấy, ta sẽ biết được ai hữu dụng và ai vô dụng. Và để chuẩn bị cho lúc ấy, để cho có được những bạn tốt, ta cần phải thực tập tình vị tha ngay từ bây giờ.

Tôi hay nói là tôi lúc nào cũng cần bạn, càng nhiều càng tốt, và mọi người hay cười tôi về điều nầy. Tôi yêu những nụ cười. Có rất nhiều nụ cười, nụ cười mai mỉa, nụ cười gỉa tạo, nụ cười ngoại giao. Có những nụ cười không làm chúng ta hài lòng, mà đôi lúc còn làm ta sợ hãi, nghi ngờ, phải không nào ? Nhưng một nụ cười chân thật mang lại cho chúng ta bao là sự vui tươi, và tôi tin là, đây là đặc điểm của con người. Nếu đây là nụ cười mà ta mong muốn thì chính chúng ta phải làm sao để cho chúng được hiện diện.

Lòng từ bi và thế giới

Để kết luận, tôi muốn nói thêm như sau : hạnh phúc cá nhân cũng góp phần không nhỏ trong việc làm cho xã hội con người tốt đẹp hơn.

Bởi vì tất cả chúng ta đều cần tình thương, vì thế khi gặp một người , dù trong trường hợp nào, chúng ta cũng có thể coi người đó như là anh, chị em của ta.

Cho dù đấy là một khuôn mặt mới, cách cư xử, cách ăn mặc cho dù có khác biệt, thật ra không có gì cách biệt giữa ta và người. Những nhu cầu căn bản tự nhiên của mọi người đều giống nhau. Vì vậy thật là điên rồ khi mà chỉ bám vào những khác biệt bên ngoài.

Cuối cùng thì con người chỉ là một và trái đất nhỏ bé nầy là nhà của chúng ta.

Để bảo vệ căn nhà của chúng ta, thì mỗi một người trong chúng ta cần phải kinh nghiệm được ý nghĩa của lòng vị tha.

Lòng ích kỷ làm cho ta chỉ biết lừa dối và bạc đãi người khác, muốn diệt trừ tính ích kỷ thì chỉ có cách phát triển tình vị tha. Nếu bạn thành thật và có tấm lòng rộng mở, tự nhiên bạn sẽ cảm nhận được niềm tự tin, hiểu rõ giá trị của chính mình và sẽ không còn sợ hãi nữa.

Tôi tin rằng mỗi giai cấp xã hội -- bình dân, bộ lạc, quốc gia, và ngoại quốc --chìa khóa cho một thế giới hạnh phúc, an lạc là phát triển lòng từ bi. Chúng ta không cần phải theo một tôn giáo nào, hay phải tin vào một lý tưởng gì, chỉ cần mỗi một người trong chúng ta phát triển hết những đức tính tốt của con người là đủ.

Tôi cố gắng cư xử với những người tôi gặp như một người bạn lâu năm. Điều nầy mang lại cho tôi một niềm vui chân chất. Và đây là lúc để chúng ta tạo một thế giới hạnh phúc hơn, an lạc hơn.


Nguồn : vnthuquan
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến dung9610 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (06-05-2010), macvophong (14-10-2009), tamnhat13 (19-09-2009), VoDanh (24-09-2009)
Old 25-09-2009, 10:39 am  
Bio-E
Member
 

Default
các bạn ơi, mình nghe nói BBC có 1 cuốn film phóng sự bộ lạc YoGi. Không biết các bạn có ai sở hữu 1 bản copy không ?
Trả Lời Với Trích Dẫn
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles