UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Ứng dụng tâm linh vào đời sống

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Old 07-09-2013, 5:54 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
Góp nhặt sỏi đá.



Thầy Thích Thông Triệt

Mở Đầu - MƯỢN THIẾT BỊ KHOA HỌC ĐỂ NHÌN THẤY TÂM
Thông thường, bằng hai mắt thường, người bình thường không thể nhìn thấy hình dáng Tâm như thế nào và màu sắc của nó ra sao. Ngày nay, bằng kính hiển vi điện tử hay bằng máy PET 1 hoặc máy chụp hình não bộ MRI, và máy Điện Não Đồ, với hai mắt thường chúng ta có khả năng nhìn hoạt động của tâm và theo dõi hoạt động của nó dưới nhiều dạng khác nhau trên các vùng ở vỏ não, qua máy vi tính (computer). Đây là kết quả của những công trình nghiên cứu và thiết lập của các nhà khoa học từ thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20.
Ngày nay với những thiết bị tối tân hoặc đơn giản, các nhà não học đã chứng minh con người có khả năng nhìn thấy được những dòng suy nghĩ, cảm thọ, ý thức, nhận thức, và tri giác của mình trên máy vi tính thông thường. Chỉ vì hầu hết suy nghĩ, cảm thọ, ý thức, nhận thức, và tri giác của con người đều phát ra những loại sóng não 2, nên con người có thể dùng máy để chụp, để đo, và nhìn thấy các loại sóng não đó hiện lên trên màn ảnh máy vi tính.
Các loại sóng não này phát ra xung lực thần kinh (nerve impulses), được gọi là điện thế (action potentials). Điện thế này di động ngang qua vỏ não và truyền vào Hệ thống viền não. Vỏ não là một cơ chế gồm nhiều định khu. Các định khu đó chứa nhiều chức năng tâm lý, sinh lý, lý trí, tri giác, ý thức, nhận thức, suy nghĩ, vận động, cảm thọ, ngôn ngữ, sáng tạo, nghệ thuật, ký ức, trí năng, trí thông minh, và trí tuệ tâm linh...
LUI VỀ QUÁ KHỨ
Trở lui những thế kỷ về trước, khi hoạt động điện tử chưa hình thành, nếu cho rằng tâm phi vật chất như vào thế kỷ 17, ông René Descartes (1596-1650), nhà Toán học và Triết học Pháp, đã công bố thì rất đúng. Vì chúng ta không nhìn thấy hình dáng tâm ra sao, sự tương tác giữa tâm và não như thế nào, và tâm tác động ra sao đến hệ thống tuyến nội tiết và nội tạng. Tuy nhiên, nếu cho rằng vì tâm phi vật chất nên nó không có nơi xuất phát thì quan điểm này hoàn toàn sai. Lý do, nếu không có nơi xuất phát, vậy tại sao có những nỗi buồn, khổ, vui, cười, hân hoan, sân hận hiện trên gương mặt? Giống như trường hợp một người khi nghe điện thoại, nghe radio hoặc nghe băng cassette và xe truyền hình, người ấy muốn tìm người nói trong điện thoại, người phát ngôn trong radio hay máy cassette, hoặc máy TV, thì người ấy không bao giờ thấy được những nhân vật trong đó. Nhưng nếu cho rằng các âm thanh được nghe và hình ảnh được thấy không phải ở trong ống nghe điện thoại, trong máy radio, máy cassette hay TV phát ra vì trong đó không có người, thì lý luận này trái với sự thật. Cũng vậy, nếu bảo rằng tâm phi vật chất, ta không thể thấy hình dạng của nó, nên nó không thể ở trong thân của ta và cũng không thể tạo ra bệnh tật cho thân thì sự hiểu như thế giống như trường hợp một người muốn tìm kiếm nhân vật bằng xương, bằng thịt trong điện thoại, TV hay radio, hoặc cassette vậy. Vì thực tế, khoa học đã chứng minh rằng hầu hết người mắc bệnh tâm thể đều do tâm của người đó bất an, do tâm của người đó rối loạn hay tâm quá căng thẳng, quá lo âu, sợ hãi tạo ra. Và muốn chấm dứt bệnh tâm thể trong chừng mực nào đó, các nhà tâm lý học hiện đại nhận thấy Thiền có khả năng giúp ta đạt được mục tiêu này. Vì Thiền chú trọng đến việc điều tâm (regulating the mind) bằng cách dẹp quán tính suy nghĩ lăng xăng, trí năng biện luận, và ý thức phân biệt, để thay vào đó là hoạt động của cơ chế tánh giác, tức chân tâm.
Như vậy, tâm tuy không hình tướng, nhưng nó có chỗ nơi xuất phát. Và chỗ xuất phát đó từ trong não bộ. Giống như xưa kia khi đức Phật từng công bố trong kinh Rohitassa, rằng: sắc, thọ, tưởng, hành, thứcđều không ở ngoài tấm thân cao một trượng này!
Hôm nay trong lớp Thiền Căn Bản, chúng ta mượn thiết bị Điện Não Đồ để nhìn thấy sự biểu lộ chính tâm của chúng ta qua máy vi tính dưới dạng sóng não.*
* Gần đây, vào trung tuần tháng Sáu, năm 2007, chúng tôi cùng tăng đoàn là thầy Không Phổ, sư cô Triệt Như, và sư cô Tường Liên, cùng với ba thiền sinh cư sĩ là cô Minh Vân, cô Minh Huệ, và chú Quang Nguyên của Đạo tràng Tánh Không Stuttgart, (Nam Đức), đã đến Đại Học Tuebingen để chụp hình não bộ bằng máy fMRI khi không thiền và khi thiền. Phần chụp hình này do hai giáo sư của trường phụ trách: Dr. Michael Erb và ông Ranga. Kết quả cho thấy trong khi thiền, 5 vùng không động: (1) Vùng ngôn ngữ thứ nhất: Wernicke, (2) Vùng ngôn ngữ thứ hai: Broca, (3) Khu Dưới đồi (Hypothalamus), (4) Tiền trán não trái và phải, (5) Ký ức vận hành (working memory), Ký ức Ngắn hạn và Dài hạn; ngược lại vùng Nhận thức sau bán cầu não trái, thuộc thùy đỉnh (Parietal lobe) hoạt động. (Xin xem hình ở phần Phụ Lục).
ĐỊNH NGHĨA
Hỏi: Điện não đồ là gì?
Đáp: Điện não đồ (Electro-encephalogram = EEG) là dụng cụ để đo sự phức tạp to lớn của não con người, gồm hàng chục tỷ tế bào não (neurons) đương trong những trạng thái:
• Hoạt động thông qua các tiến trình suy nghĩ, suy luận, phân biệt, hồi tưởng, duyên theo những ký ức bằng sự nói thầm hay đối thoại thầm lặng;
• Hoặc đương tưởng tượng từ trong não, đương dùng tự kỷ ám thị để dụng công;
• Hoặc đương áp dụng những bước không nói thầm, biết, chỉ biết để dụng công dưới dạng phân tích của sự đáp ứng điện (the electrical responses) của não bộ, được ghi lại bằng các sóng não. Các loại sóng não này được truyền qua máy vi tính (computer), sau đó ta nhìn thấy các loại sóng não đó hiện lên trên màn ảnh máy vi tính.
TRỢ DUYÊN DỤNG CÔNG
Để trợ duyên dụng công có kết quả tốt, các trung tâm Thiền Phật giáo hay Thiền Yoga tại vài nơi trên thế giới, như Nhật, Mỹ, và Ấn Độ đã dùng điện não đồ (ĐNĐ) để đo mức độ tâm thức, tức Thức của Ý* của người thực hành thiền đã xảy ra như thế nào trên màn ảnh máy vi tính, lúc họ đương thực hành các chủ đề trong Thiền.
* Tâm thức (mental consciousness), từ Phật giáo gọi là "Ý Thức" (Manoviññāṇa) hay dịch âm là "Mạt na thức."
LƯỢNG GIÁ
Bằng cách đo này, họ căn cứ vào đó để lượng giá mức độ dừng niệm hay kiểm soát niệm tạp nhạp của người hành thiền đến đâu, sau thời gian tu tập trong một khóa thiền: từ 2 ngày đến 10 ngày, hoặc từ 3 đến 6 tháng, hay nhiều khóa: từ 1 đến 5 năm. Thông thường thời gian kéo dài sự đo từ 5 phút đến 10 phút.
ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP
Trong hướng thực hành thiền mới, để cụ thể hóa lời dạy của Phật và chư Tổ là:
• Làm chủ tâm ngôn hay làm chủ ngôn hành là Tầm và Tứ 3 hoặc không suy nghĩ, không lời, và
• Làm chủ ý hành là không theo vọng để tánh giác hiển lộ
Từ năm 1997, chúng tôi đã áp dụng cách "đo tiến trình tâm" của thiền sinh bằng máy Điện Não Đồ (ĐNĐ). Tiến trình này gồm 2 phần: vọng tâm và chân tâm.
Nhờ áp dụng cách đo ĐNĐ, chúng tôi đã đánh giá được phương pháp hướng dẫn của chúng tôi qua các kỹ thuật và "chiêu thức" (gimmicks) làm chủ tâm ngôn, hay dừng vọng tưởng, hoặc cao nhất là an trụ trong "Như vậy" (Tathā).
Từ năm 1997, trong khóa Thiền Căn Bản thứ ba tại Nam California, chúng tôi đã đưa phương pháp đo ĐNĐ vào Thiền.
Những năm tiếp sau đó, sau mỗi khóa Tu Học từ 7 ngày, 10 ngày, 3 tháng, 6 tháng, hoặc 1 năm, 3 năm, chúng tôi đều đo hoạt động sóng não của thiền sinh để hướng dẫn họ cách thực tập làm chủ tâm ngôn để vào Định. Tâm ngôn mà làm chủ được, người hành thiền sẽ vào Định dễ dàng. Qua đó, nội tâm sẽ chuyển hóa, và trí tuệ tâm linh cũng sẽ có điều kiện phát huy rộng lớn; đặc biệt là ta có khả năng phục hồi ký ức và làm cho khớp thần kinh (Synapses) mọc ra thêm.
Hỏi: Tiến trình vọng tâm là gì?
Đáp: Tiến trình vọng tâm là sự biểu lộ những mức độ tâm lý xúc cảm đủ loại trong lúc chính thức thực hành thiền mà ta không kiểm soát được tâm ngôn.
Ngoài ra, có những trường hợp khi ngồi thiền, ta áp dụng những phương pháp:
1. Tưởng tượng, hoặc tập trung tư tưởng vào đối tượng trước mặt;
2. Cố gắng quan sát hay theo dõi đối tượng đó trên thân hay ngoài thân;
3. Trí chú hay tụng kinh, hoặc niệm danh hiệu Phật với nhịp điệu điều đặn.
Khi đo ĐNĐ, trong tiến trình này cả 2 loại sóng não Beta hoặc Alpha đều xuất hiện trên màn kiếng máy vi tính.
Hỏi: Tiến trình chân tâm là gì?
Đáp: Tiến trình chân tâm là sự biểu lộ những mức độ nội dung trái ngược với vọng tâm. Đó là khi ngồi thiền, tâm ở những trạng thái:
1. Biết không lời
2. Thầm nhận biết
3. Tỉnh thức biết
4. Nhận thức không lời, hoặc
5. Chánh niệm tỉnh giác
6. Tuệ tri như vậy
7. An trú chánh niệm như vậy...
Khi đo ĐNĐ, sóng não Theta và sóng não Delta liền có mặt.
Hỏi: Tại sao?
Đáp: Vì đó là những tiến trình định từ thấp đến cao.
TÁC DỤNG
Đối với Thiền, Điện não đồ là dụng cụ cần thiết được dùng để lượng giá mức độ tâm an tịnh hay mức độ dừng vọng tưởng của người hành thiền, sau thời gian tu học từ 7 ngày, 10 ngày đến 1 tháng hay 3 tháng, hoặc 1 năm , 3 năm. Nếu sau những thời gian qui định trên, ta chưa có kinh nghiệm làm chủ vọng tưởng, dù chỉ trong vài giây đồng hồ—trong não vẫn còn nói thầm—ta nên xét lại phương pháp hay kỹ thuật thực hành của ta:
1. Ta có thực hành đều đặn không?
2. Phương pháp mà ta đương thực hành có đúng với trọng tâm hướng đến chỗ làm chủ sự suy nghĩ để tánh giác hiển lộ không?
Hoặc ta đã thực hành thiền bằng phương pháp vòng vo? Thay vì vào chỗ "không lời," chỗ "vô ngôn" ta lại chơi trò chơi cút-bắt với niệm? Ta cứ nói thầm mãi trong 4 oai nghi? Ta không hề sử dụng biết không lời, chỉ biết, thầm nhận biết... để dụng công? Ý NGHĨA NHỮNG DẠNG SÓNG NÃO
Bằng Điện não đồ, các nhà não học ghi nhận được những loại điện thế (action potentials) từ bên trong tế bào não (neurons) phát ra và truyền đi trong trục thần kinh não (axon). Dạng điện này được gọi là sóng não.
Có tất cả 4 loại dạng sóng não: Beta, Alpha, Theta, và Delta.

1. Sóng Beta
Ý NGHĨA
C. Maxwell Cade, người Anh, là người thiết lập mô thức Hồi đáp sinh học (biofeedback) đầu tiên, định nghĩa Beta như "Nhịp tỉnh táo bình thường của não kết hợp với hoạt động suy nghĩ hay hoạt động chú ý, tập chú vào thế giới bên ngoài hay giải quyết những vấn đề cụ thể. Sức mạnh của tín hiệu gia tăng bởi lo âu và giảm bởi sự hoạt động cơ bắp." "The normal waking rhythm of the brain associated with active thinking or active attention, focussing on the outside world or solving concrete problems. The strength of the signal is increased by anxiety and reduced by muscular activity."
Nói theo ngôn ngữ Thiền, sóng não Beta luôn luôn kết hợp với ngôn hành và ý hành. Ngôn hành là Tầm và Tứ. Ý hành là Thọ và Tưởng.
ĐẶC TÍNH
Sóng não Beta tượng trưng cho vọng tưởng, vọng tâm. Ngôn hành (Tầm và Tứ) và Ý hành (Thọ và Tưởng) đều có mặt đầy đủ.
Sóng này được đo từ 14 đến 30 Hz trong mỗi giây. "Hz" là ký hiệu được dùng để chỉ đơn vị tần số tương đương với chu kỳ 1 giây đồng hồ. Nó là chữ viết tắt của từ "Hertz." Từ Hertz là tên của nhà vật lý người Đức: Heinrich Hertz (1857-1894). Vào thế kỷ 19, ông là người đầu tiên đã khám phá ra sóng ánh sángphát ra từ radio. Các nhà đo điện não đồ dùng tên của ông để chỉ khoảng cách của sóng não trong một giây đồng hồ.
Đặc tính của sóng não Beta là nói lên những mức độ cao của tiến trình nhận thức bằng suy luận, bằng suy nghĩ phức tạp, và bằng những sự phân biệt dây dưa sâu sắc của ý thức thông qua sự nói thầm trong não, hoặc sự tưởng tượng về đối tượng hay chủ đề mà ta đương thực hành.
Nói cách khác, khi Tầm và Tứ hay sự nói thầm và đối thoại thầm lặng, hoặc vọng tưởng liên tục khởi lên với mục tiêu có định hướng như thế nào đó, đây chính là lúc sóng Beta xuất hiện ào ạt. Cũng vậy, khi niệm niệm (thought after thought) liên tục xung đột trong não một người dưới dạng tâm lý băng khoăn lo lắng, hay trạng thái tỉnh táo bình thường, hoặc ý thức cảnh giác bình thường, sóng Beta cũng cuồn cuộn nhấp nhô nổi lên. Đó là đặc tính của sóng não Beta.
ĐIỀU KIỆN
Sóng Beta xuất hiện trong những trường hợp:
• Với người mới tập thiền, khi đo ĐNĐ mà môi trường bên ngoài có nhiều tiếng động, âm thanh này sẽ ảnh hưởng người đương đo; qua đó sẽ tạo nên sóng Beta.
• Ngoài ra, khi vừa ăn xong, nếu đo ĐNĐ, sóng Beta cũng dễ dàng phát ra.
• Trong lúc tọa thiền, nhiều hình ảnh từ các vùng ký ức gởi lên liên tục; đặc biệt là ký ức dài hạn. Ta không ngăn chặn được, rồi ta nói qua, nói lại với ta về những hình ảnh đó.
• Sóng não Beta được kết hợp với sự gia tăng huyết áp và tăng gia sự biến đổi hóa học bên trong cơ thể để cung cấp nhu cầu năng lượng cho cơ thể (metabolism). Dạng sóng này nói lên trạng thái hoạt động nội tâm cao như sóng biển dậy lên ào ạt từng đợt liên tục. Sóng não Beta được tính từ 14 đến 30 Hz mỗi giây.
• Nói chung, trên phương diện thực hành thiền, sóng Beta xuất hiện trong những trường hợp cụ thể:
1. Khi tỉnh thức có ý thức như ngồi thiền mà ta tập trung tư tưởng vào vấn đề nghiêm trọng. Lúc đó trong đầu vừa suy nghĩ tính toán, vừa nói thầm, và vừa biểu lộ những sắc thái tâm lý xúc cảm.
2. Khi ngồi thiền, ta đối thoại thầm lặng về nhiều vấn đề liên quan trong cuộc sống hằng ngày.
3. Khi ngồi thiền ta tưởng tượng về một hình ảnh nào đó.
4. Khi đối duyên, xúc cảnh, chúng ta sử dụng ý thức (phân biệt đối tượng bên ngoài để giải quyết vấn đề cụ thể) hay ý căn (suy nghĩ, tính toán hợp lý hay không hợp lý) để giải quyết mọi vấn đề bình thường hay nghiêm trọng.
5. Khi tọa thiền, ta ở trong trạng thái cảnh giác ý thức thường trực như "mèo rình chuột." Đây là ta cố gắng kềm giữ vọng tưởng, không cho nó khởi lên (nhưng ta chẳng làm sao dừng được). Ta tự phác họa vọng tưởng là "chuột." Còn ta là "mèo." Khi niệm khởi lên, mèo nhảy tới chụp.
6. Đặc biệt, khi tọa thiền, ta cố gắng cắn răng chịu đựng sự đau nhức quá mức hay tê cứng hai chân mà không chịu xả thiền, sóng Beta cũng xuất hiện. Thí dụ, trong tư thế bán già hay kiết già, nếu ta ngồi với sự cố gắng giữ thân mình (sống lưng, hai tay, đầu, cổ) cho được ngay thẳng, theo sự quy định trong suốt thời thiền 60 phút hay 120 phút tại thiền đường hay tại nhà. Ta cố gắng trân mìnhchiến đấu với vọng tưởng, như chơi trò chơi cút-bắt với niệm, nhưng kết quả ta chẳng làm sao chiến thắng được. Vì càng cố gắng, sóng Beta càng chạy lung tung, thần kinh càng căng; cuối cùng đưa đến ta càng thất bại, hay càng xa rời mục tiêu thiền là thư giãn tâm! Mặc dù lúc bấy giờ trong đầu ta chỉ có một niệm cố gắng tối đa để giữ thân mình cho được ngay thẳng, dù tê, đau, nhức, ngứa cũng cắng răng chịu đựng.
7. Khi lo âu, tim đập nhanh, hai bên vùng thái dương đập nhanh, thở nhanh, sóng Beta liền được tạo ra. Trong trường hợp này, ta không thể suy nghĩ thẳng ngay vào vấn đề gì. Tâm ta có vẻ như ngoài sự kiểm soát, và sóng não Beta nổi lên loạn xạ.
SO SÁNH
Bốn nhóm trong Ngũ uẩn là thọ, tưởng, hành, thức, đại biểu cho vọng tâm, đều có mặt thường trực, khi sóng não Beta xuất hiện. Tuy nhiên, nếu thọ khởi lên, ta biết mà không dính, sóng Theta liền xuất hiện.
CÁCH KIỂM SOÁT SÓNG BETA ĐỂ CÓ SÓNG ALPHA
Muốn kiểm soát sóng Beta để có sóng Alpha, ta có thể áp dụng phương pháp dùng lời nói thầm để cắt đứt quán tính suy nghĩ bằng những cách:
1. Thở đếm từ 1 đến 10.
Thí dụ: Khi hít vào, đếm thầm "1," thở ra đếm thầm "2" cho đến "10." Sau đó, tiếp tục vừa thở, vừa đếm. Chỉ thở trong vòng 30 giây, sóng não Beta sẽ từ lần giảm độ cao; thế vào đó là sóng Alpha.
2. Niệm Phật.
Thí dụ: Ta cũng có thể áp dụng cách niệm thầm danh hiệu Phật với nhịp điệu đều đặn, hoặc niệm có lời; tai vừa đủ nghe; sóng Beta cũng hạ; sóng Alpha xuất hiện.
3. Trì chú.
Thí dụ: Ta cũng có thể trì chú đều đặn như cách niệm thầm danh hiệu Phật; sóng Beta cũng hạ.
4. Đếm thầm "1-2-3."
Thí dụ: Đặc biệt, ngoài những cách trên, ta có thể áp dụng cách đếm thầm, chậm "1-2-3" trong vòng 10 giây, sóng Beta cũng hạ.
5. Tập trung ý nghĩ.
Ta cũng có thể áp dụng cách tập trung ý nghĩ vào những nơi trên thân, như đầu mũi, đơn điền, hay ngồi với lưng thẳng đứng, tập trung ý nghĩ vào việc quan sát lần lượt những cảm thọ từng nơi cơ thể.
Thí dụ: Bụng, tay, đầu, mặt, vân vân, sóng Beta cũng hạ; sóng Alpha xuất hiện.
Những cách trên, theo từ chuyên môn trong Thiền, chúng tôi gọi là "dùng tầm tắt tứ." (xem tiếp phần sóng Alpha)
CÁCH KIỂM SOÁT SÓNG BETA ĐỂ CÓ SÓNG THETA
Muốn kiểm soát sóng Beta để có sóng Theta, ta có thể áp dụng như sau:
1. Ngồi với lưng thẳng đứng, mở mắt nhìn vào bất kỳ đối tượng nào trước mặt. Áp dụng chỉ biết, sóng Beta liền giảm ngay tức khắc. Cuối cùng sóng Beta trở thành sóng Theta.
2. Ta củng có thể chuyển sang cách: nghe chỉ biết nghe. Thí dụ nghe âm thanh tiếng chuông, sóng não Beta cũng hạ.
3. Thực tập chỉ biết trong lúc đi, đứng, hay ngồi chơi (không phải ngồi chính thức theo tư thế ngồi thiền) trong thời gian ngắn: từ 7 đến 10 ngày liên tục. Mỗi ngày dành riêng cho những lúc dụng công trong các dịp: đi vệ sinh, đánh răng, súc miệng, đi tắm, lái xe đi; lúc ăn, lúc uống, lúc làm những việc linh tinh. Lúc nào cũng áp dụng chỉ chỉ biết qua các giác quan: mắt, tai, da, mũi, lưỡi. Sau đó đo ĐNĐ, sóng não Beta sẽ không còn mà thế vào đó là sóng não Theta. Đây là dạng Định trong động, đồng thời kích thích vào các tánh trong cơ chế tánh giác. (xem tiếp phần sóng Theta)
2. Sóng Alpha
Ý NGHĨA
Sóng não Alpha tượng trưng cho tâm tạm dừng lại vì nó có nương vào một đối tượng. Nhịp biết có lời và tỉnh thức ý thức của não kết hợp với hoạt động của 2 vùng tiền trán não phải và não trái, cộng với vùng Broca và vùng nói thầm.
Trong lúc sóng Beta nói lên sự gia tăng hoạt động của các vùng ý căn, ý thức, và trí năng, kết hợp với ngôn hành và ý hành, thì sóng Alpha tăng lên hoạt động của tự kỷ ám thị, kết hợp với "tầm" mà "không tứ."
Tự kỷ ám thị là cách thực hành thiền mình tự ngầm bảo cho mình về điều gì đó để tạo ra phản xạ vui thích hay ức chế tâm lý. Nó thường kết hợp với sự tưởng tượng hơn là thực tế.
ĐẶC TÍNH
Sóng não Alpha tượng trưng cho tâm lắng dịu, thư giãn, nhưng chưa thực sự yên lặng như sóng não Theta. Sóng này thưa hơn sóng Beta; trung bình từ 9 đến 13 Hz trong 1 giây.
Đặc tính của sóng não Alpha có lời nói thầm, nhưng không có đối thoại thầm lặng bên trong. Nói cách khác là có tầm không tứ. Nó tương xứng với trạng thái tỉnh thức ý thức. Đó là tuy có tỉnh thức, nhưng vẫn còn phân biệt hai bên: có ta và đối tượng của ta. Nhưng đặc biệt, trong tiến trình này không có hoạt động của suy nghĩ; trái lại có hoạt động của ý thức tập chú (focus) vào đối tượng hoặc trí năng tưởng tượng về đối tượng.
ĐIỀU KIỆN
Điều kiện làm phát sóng Alpha là khi ta dùng ý thức để tập trung vào một đối tượng. Lúc bấy giờ tuy tạp niệm thỉnh thoảng mới thò ra, nhưng tâm ta chưa thực sự dừng hẳn. Vì còn niệm tập trung. Đây là quá trình tâm còn một niệm.
Thông thường sự lập thành sóng não Alpha do hội đủ 4 điều kiện sau đây:
Ta/tự ngã + Tâm (Trí năng, ý thức, hoặc ý căn) + Tự kỷ ám thị + Đối tượng (chủ đề hay pháp) = Alpha
Thí dụ:
1. Để hạn chế sự dao động nội tâm, ta cố gắng tập trung vào một đối tượng trước mặt hoặc trên thân mình, như đơn điền, hay đầu mũi, hoặc giữa trán. Trong tiến trình này sóng não được tác động để phát ra tần số tập trung vào đối tượng. Niệm tạp nhạp tuy không khởi lên, nhưng niệm biết không lờivẫn không có mặt trong tiến trình này; trái lại, có niệm tập trung vào một đối tượng. Qua phương thức này, sóng não Alpha xuất hiện.
2. Để ngăn ngừa tạp niệm, khi thực hành thiền trong lúc đi, đứng hay ngồi, ta tập trung tư tưởng vào một đối tượng như miệng niệm danh hiệu Phật, tay lần tràng hạt. Trong tiến trình này, tác ý vẫn được tâm tác động để tập chú vào việc:
- Miệng niệm Phật
- Tay lần tràng hạt
Như vậy, trong vi tế, tâm vẫn ở trạng thái động. Nhưng về trường hợp này, trạng thái tâm không lăng xăng dao động như trạng thái tâm thuộc dạng sóng Beta.
3. Thở đếm từ 1 đến 10 và theo dõi hơi thở vào, ra.
4. Khi người hành thiền trong trạng thái hôn trầm hay ngủ gật, sóng não cũng hiện lên dạng Alpha.
5. Niệm thình lình bất chợt xẹt vào trong tâm mà người hành thiền không có ý mống khởi.
6. Mơ mộng (daydreaming), mơ màng (light reverie), tưởng tượng (fantasizing), nhớ lại (remember), hồi tưởng (recall), và sự hình dung, tưởng tượng thấy (visualization) điều gì trong não.
7. Mơ tưởng những viễn ảnh tương lai; ước mơ điều gì mình sẽ đạt được trong tương lai.
8. Mống tâm tưởng nhớ hay hồi tưởng chuyện quá khứ; luyến tiếc hay hối hận chuyện đã xảy ra, và vẽ ra những ý đồ điều chỉnh lại những sai lầm trong quá khứ.
9. Trong lúc tọa thiền, ta áp dụng tự kỷ ám thị, như liên tục vận dụng óc tưởng tượng để hình dung về điều gì mà ta chưa hề biết hay chưa hề chứng kiến, hoặc ta mơ tưởng một cảnh giới nào đó ở ngoài trái đất mà ta sẽ đến đó, sau khi chết.
SO SÁNH
Đối nghịch với sóng Beta là sóng Alpha. Với sóng não Alpha, trong ngũ uẩn, Tưởng có mặt thường trực.
Ta có thể so sánh sóng Beta tượng trưng cho niệm ác, niệm bất thiện, tạo ra sự căng thẳng thần kinh, còn sóng Alpha tượng trưng cho niệm thiện, niệm tốt, niệm yên lặng, niệm biết rõ về một đối tượng. Tương xứng với nhất tâm 4, hay tâm có một điểm cụ thể để trụ.
Trong tiến trình niệm này, tác ý vẫn còn có mặt. Đó là "Ta" chú ý hay tập chú vào "đối tượng của ta" như thế nào đó.
Mặc dù lúc bấy giờ tâm người có dạng sóng Alpha ở trạng thái thư giãn, không dao động lăng xăng như người cố gắng tối đa để thực hành một chủ đề nào đó trong thiền; trái lại, trong đầu người đó vẫn còn khởi niệm: cố gắng theo dõi những hoạt động trên thân hoặc tưởng tượng tâm mình như thế nào đó...Đây là tác ý.
Thí dụ, khởi ý cố gắng dụng công về chủ đề Thở trong Thiền. Rồi tưởng tượng hơi thở của mình như thế nào khi hít vào, lúc thở ra. Đó là tự kỷ ám thị. Trong tiến trình này, ta sử dụng trí năng suy luận để thực tập:
• Cố gắng nhớ số đếm từ 1 đến 10; quên thì đếm lại; hoặc đếm ngược: 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1; hoặc đếm xuôi: 1, 2, 3...
• Tưởng tượng về hơi thở và tâm như thế nào đó.
Với điều kiện này, niệm tạp nhạp tuy không xuất hiện, nhưng vẫn còn lại là niệm tưởng tượng khi dụng công. Tâm chưa trở nên hoàn toàn yên tịnh: vẫn còn dính với cảnh.
Hoặc khi ngồi thiền, ta hình dung hay tưởng tượng mỗi lần hít vào hay thở ra, thân khoẻ mạh, tâm tươi mát... Trong trường hợp này, bề ngoài xem như nội tâm có vẻ yên lặng và thư giãn, nhưng kỳ thật niệm niệm cứ liên tục khởi lên theo sự tưởng tượng của ta.
Với trạng thái tâm ở mức độ động vi tế này, sóng Alpha xuất hiện thường trực. Sóng này có biên độ 5thấp (low-amplitude), chậm, có tần số 6 trung bình từ 9 đến 13 Hz trong mỗi giây.
Như vậy, nếu áp dụng Thở Đếm hay Theo Dõi Hơi Thở, hoặc Quán hay quan sát một đề mục nào đó trên thân, hoặc tự kỷ ám thị để tưởng tượng một cảnh giới, một hình ảnh nào đó, sóng Alpha liền xuất hiện. Điều này cho thấy, sóng Alpha liên kết giữa tâm thức và tiềm thức.
Thí dụ, trong lúc áp dụng các phương thức Quán, tuy ta không suy nghĩ lung tung, niệm tạp nhạp không khởi lên, nhưng trong đầu vẫn còn có niệm. Lý do là ta đang tập chú tâm thức để cố hình dung về chủ đề ta đương thực tập. Đây là điều kiện làm cho sóng Alpha xuất hiện.
SỰ LIÊN KẾT GIỮA SÓNG ALPHA VÀ GIÁC QUAN
Trên phương diện sinh lý học, sóng Alpha được liên kết với mắt và trạng thái biết của ý thức phân biệt, và biết của trí năng.
Khi áp dụng nhìn ánh sáng nắng, nhìn mây bay trên bầu trời, chúng ta sẽ tạo ra sóng Alpha nhanh hơn. Còn nếu ngồi nhìn mây bay trên trời mà trong não liên tục khởi lên niệm nói thầm hay đối thoại thầm lặng, sóng Alpha cũng xuất hiện.
Ngoài ra, nếu ngồi thiền mà đảo mắt ngược lên, ta sẽ tạo ra sóng Alpha nhiều hơn.
CÁCH KIỂM SOÁT SÓNG NÃO ALPHA ĐỂ CÓ SÓNG NÃO THETA
Sóng Alpha sẽ không xuất hiện, thế vào đó là sóng não Theta, nếu ta áp dụng:
• Phương pháp Thở bằng niệm Biết Không Lời;
• Nhìn đối tượng trước mắt bằng thầm nhận biết hay chỉ biết.
• Tọa thiền trong trạng thái thư giãn. Thí dụ, thư giãn lưỡi, thư giãn thần kinh mặt, sóng Alpha sẽ xuất hiện trước, sau đó đi vào Theta.
• Tâm ở trạng thái biết không dính (detached awareness) hoặc biết không lời (wordless awareness).
3. Sóng Theta
Ý NGHĨA
Sóng não Theta tượng trưng cho tâm định: biết không lời có mặt. Nhịp thầm nhận biết và tỉnh thức biết bình thường của não kết hợp với hoạt động của vùng kiến giải tổng quát, phía sau bán cầu não trái. Trong sóng não Theta không có hoạt động của tác ý (chú ý) vào bất cứ đối tượng nào trên thân hay ngoài thân.
Tâm người hành thiền ở trạng thái rỗng lặng: biết tất cả mà không dính tất cả. Trong ngũ uẩn, Thọ (biết không dính) có mặt thường trực. Tưởng, Hành, và Thức vắng mặt.
ĐẶC TÍNH
Sóng não Theta có tần số từ 4 đến 8 Hz trong mỗi giây. Đây là trạng thái tâm tĩnh lặng sâu hay thư giãn sâu. Niệm niệm không tự động khởi ra trong đầu người hành thiền. Ngôn hành và ý hành yên lặng. Các vùng ký ức vận hành, ký ức dài hạn, và ký ức ngắn hạn không hoạt động.
Do đó, sóng Theta được xem là nền tảng của tất cả những tiến trình Định, vì trong nó tầm và tứ đều vắng mặt. Ý hành cũng vắng mặt.
ĐIỀU KIỆN
Khi người hành thiền kinh nghiệm:
• Thầm nhận biết,
• Tỉnh thức biết,
• Biết như thật 7,
• Biết như vậy 8,
• Làm chủ tâm ngôn,
Sóng não Theta liền phát ra.
Ngoài ra, tọa thiền trong trạng thái thư giãn. Thí dụ, thư giãn lưỡi, thư giãn thần kinh mặt, sóng Alpha xuất hiện trước, sau đó là sóng Theta.
SO SÁNH
Sóng Theta tương đương với trạng thái không nói thầm hay không đối thoại thầm lặng. Còn sóng Alpha tương đương với trạng thái Quán, tử kỷ ám thị, hay tập trung tư tưởng vào đề mục dụng công. Khi một người vừa mới dừng được tầm và tứ, sóng não Theta liền hiện ra. Nếu vị ấy củng cố trạng thái không lờitừ 10 phút đến 30 phút, sóng Delta liền hiện lên trên màn máy vi tính.
4. Sóng Delta
Ý NGHĨA
Sóng Delta tượng trưng cho tâm định vững chắc. Nhịp nhận thức không lời xuất hiện bình thường kết hợp với vùng nhận thức không lời của khu kiến giải tổng quát. Tâm của người hành thiền ở trạng thái hoàn toàn khách quan.
ĐẶC TÍNH
Sóng Delta biên độ cao, tần số từ 3 đến 4 Hz hay thấp hơn là từ 1 đến 3 Hz trong mỗi giây. Nếu nhìn lên trên màn máy vi tính, ta sẽ thấy sóng Delta có dạng như sợi chỉ gần như thẳng.
ĐIỀU KIỆN
Bằng phương pháp:
• Nhận thức không lời,
• Biết như vậy,
• Thấy biết như vậy,
Sóng não Delta liền xuất hiện. Tuy nhiên, nếu chỉ đo sóng não có dạng Delta trong lúc đo, rồi thời gian sau đó các thứ tâm lăng xăng, điên đảo lại khởi lên, kết quả sự đo kia không còn giá trị. Vì gió thế gian sẽ thổi "Cây Định" của người hành thiền "trốc gốc!" Vì vậy, muốn liên tục củng cố dạng sóng Delta, người hành thiền phải liên tục củng cố không nói thầm trong não trong bốn oai nghi ngoài những thời thiền
SO SÁNH
Bằng nhận thức không lời, ta vào được Delta, trong lúc đó bằng thầm nhận biết hay tỉnh thức biết, ta vào được Theta. Sóng não Delta được so sánh như trạng thái của người vào được Định sâu, tương đương với trạng thái Nhị Thiền vững chắc với tâm thuần nhất 9 và Tam Thiền với chánh niệm tỉnh giác. Sánh với Thiền tông là trạng thái không lời hay vô ngôn vững chắc. Nơi đây tám gió thế gian khó lung lạc thiền gia.
NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÁC
Với thiền, sóng não Delta đại biểu cho trạng thái "tâm vô thức" hay trạng thái "nhận thức không lời" được kéo dài từ 5 phút đến 10 phút, hoặc cao hơn nữa trong một thời thiền. Còn đối với người tuy cũng vào định, nhưng không biết gì chung quanh, không có nhận thức không lời về đối tượng siêu lý luận, cũng tạo ra sóng Delta, nhưng người này không có trí tuệ tâm linh tự phát.
Hoặc trong lúc ngủ say và khi hệ thống Cơ cấu mạng lưới (Reticular Formation) không nhận tín hiệu từ bên ngoài vào, như tình trạng mất cảm giác (anesthesia) cũng tạo ra sóng não Delta.
Hoặc người ngủ say, hay hôn mê (coma), sóng não Delta tuy cũng xuất hiện, nhưng nhận thức không lờikhông có mặt.
TÁC DỤNG
Tác dụng của sóng não Delta cho thấy phần lớn sóng não này là thành phần của trực giác (intuition) và thấu cảm (empathy). Người có sóng não này thường là người dễ thông cảm với người khác. Những trạng thái từ, bi, hỷ, xả thường biểu lộ ra ngoài thân, lời và ý của vị đó.
Trí tuệ tâm linh được triển khai từ sóng não Delta. Người có sóng não Delta sẽ có trí tuệ tâm linh không thể giải thích (an inexplicable spiritual insight) như:
• Thấu cảm (khả năng hiểu biết được ý nghĩ và cảm xúc của người khác),
• Linh cảm (a hunch, a premonition, a presentiment) = nhận thức điều gì không thông qua giác quan,
• Linh tính (a foreboding) = sự đoán trước một việc gì đó sẽ xảy đến trong tương lai gần.
Sóng não Delta được so sánh như máy radar của con người. Khi người hành thiền đạt được vững chắc sóng Delta liên tục trong nhiều năm, vị ấy có khả năng bắt được tần số suy nghĩ của người khác.
Cao hơn nữa là sự phát huy tính sáng tạo 10 (creativity). Trong đó có khả năng tứ vô ngại giải 11, và sáng đạo 12 (innovation of the way).

Trích sưu tầm.
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (07-11-2013), thien thu 2 (07-09-2013)
DƯỚI CHÂN THẦY (Krishnamurti)
Old 20-02-2014, 1:59 pm  
Luciola
Senior Member
 
Luciola's Avatar
 

Default DƯỚI CHÂN THẦY (Krishnamurti)
DƯỚI CHÂN THẦY (Krishnamurti)

Nguyên Tác: AT THE FEET OF THE MASTER
Tác Giả : ALCYONE (KRISHNAMURTI)


XIN DÂNG CHO NHỮNG NGƯỜI TẦM ÐẠO :

Xin dắt tôi từ cõi giả đến cõi CHÂN,
Xin dắt tôi từ chỗ tối tăm đến nơi SÁNG SUỐT,
Xin dắt tôi từ cửa tử đến cõi TRƯỜNG SINH BẤT TỬ.

Annie Bessan

VÀI LỜI NÓI ĐẦU

Tôi được cái đặc quyền như người chị cả, viết vài lời giới thiệu quyển sách nhỏ bé này, quyển sách đầu tiên của một đứa em còn ít tuổi; thật ra, xác phàm của em còn nhỏ chớ linh hồn em không nhỏ. Những lời giáo huấn trong đó vốn của Thầy em chỉ bảo trong khi Ngài huấn luyện cho em được Điểm Đạo. Em viết thuộc lòng mấy lời này song chậm chạp và khó khăn bởi vì năm ngoái em học tiếng Anh chưa được giỏi như bây giờ [1]. Phần lớn cuốn này vốn lập lại y nguyên lời của Thầy em đã nói, còn câu nào không phải nguyên văn lời của Ngài thì cũng là tư tưởng của Ngài được em viết lại. Có hai câu bỏ sót, Ngài đã điền vào. Trong hai chỗ khác em quên một chữ, Ngài cũng đã thêm vô. Ngoài những điều ấy ra, tác phẩm này hoàn toàn là của Alcyone [2], ấy là món quà đầu tiền em cống hiến cho đời .



Cầu xin tác phẩm này giúp ích cho kẻ khác cũng như lời khẩu truyền đã giúp ích cho Alcyone vậy. Bởi Alcyone cũng mong mỏi như thế cho nên em mới đem truyền lại cho chúng ta. Những lời giáo huấn này có hiệu quả chỉ khi nào người ta ăn ở y như Alcyone vậy, một lòng nghe theo lời huấn thị của Ngài. Nếu bắt chước gương nầy cùng theo những giới luật tức thì Cửa Ðạo mở rộng, đọc giả sẽ bước vào đó cũng như tác giả đã bước vô rồi vậy

Tháng 12, 1910 ANNIE BESANT

(Lời nói đầu ở trên được viết khi ông Krishnamurti lên 15 tuổi và sống dưới sự giám hộ của bà Annie Besant. Lời Nhà Xuất bản Anh Văn).

Kính tặng cho những ai gõ cửa.

LỜI TỰA

Mấy lời nầy chẳng phải của tôi, ấy là lời của Sư Phụ tôi đã dạy tôi. Không có Ngài tôi không làm được gì cả; nhờ Ngài giúp tôi mới được bước vào Ðường Ðạo. Anh cũng vậy, anh muốn bước vào Ðường Ðạo, thì những lời Sư Phụ tôi sẽ hữu ích cho anh, nếu anh tuân theo những lời giáo huấn ấy. Nói rằng những lời đó chân chánh và tốt đẹp thì chưa phải là đủ; người nào muốn thành công, phải ăn ở y như lời chỉ giáo. Một người kia bụng đói xép ve dòm một món đồ ăn rồi nói ngon quá thì có ích chi cho y đâu; người ấy phải thò tay lấy ăn. Cũng thế, nghe lời Thầy dạy chưa phải là đủ; phải làm những điều Ngài nói, chăm chỉ từng tiếng, từng dấu. Nếu mà không chú ý đến một dấu và bỏ qua một tiếng, thì dấu đó và tiếng đó mất biệt rồi; bởi vì Chân Sư không nói hai lần.

Muốn bước vào Đường Đạo phải có bốn điều kiện sau:

- Một là : PHÂN BIỆN (Discrimination)
- Hai là : DỨT BỎ (Đoạn tuyệt) (Desirelessness)
- Ba là : HẠNH KIỂM TỐT (Good Conduct )
- Bốn là : LÒNG TỪ ÁI (Love)

Tôi sẽ cố gắng nói cho anh nghe những lời Sư Phụ tôi dạy tôi về mỗi điều kiện ấy.

THIÊN THỨ NHỨT : TÍNH PHÂN BIỆN

Tính phân biện chia ra làm năm khoản như sau đây:

1- Những mục đích thật
2- Cách sinh hoạt của ba thể : xác, vía trí
3- Ðiều lành và điều dữ
4- Phải hết sức ngay thật
5- Tình bác ái và Thiên mạng (sự sống thiêng liêng)

I.- Những mục đích thật

Đứng đầu trong bốn điều kiện là tánh Phân biện. Thường thường người ta hiểu nghĩa phân biện đây là phân biện sự chân và sự giả nó dắt con người vào Ðường Ðạo. Hiểu như thế thật đúng, nhưng mà còn nhiều hơn thế nữa; và phải thực hành phân biện, không những khi mới bước vào đường Ðạo, mà luôn mỗi ngày mỗi bước đi cho tới lúc đắc đạo thành chánh quả. Con bước vào Ðường Ðạo bởi vì con biết rằng duy trong đó mới có những việc đáng thâu lãnh mà thôi. Những người chưa hiểu biết làm lụng đặng trở nên giàu sang và có quyền thế, nhưng hai cái tước lộc nầy dùng được lâu lắm bất quá là một đời mà thôi, bởi thế chúng nó là mộng ảo. Có nhiều việc lớn lao đáng tìm lấy hơn sự giàu sang và quyền thế – mấy việc ấy chân thật và không hề hư hoại; một khi người ta thấy rồi, không còn muốn điều gì khác nữa.

Trên thế gian này chỉ có hai hạng người : những người hiểu biết và những người không hiểu biết; duy chỉ có sự hiểu biết mới là hệ trọng mà thôi.Con người giữ Đạo nào hay thuộc về giống dân nào là những việc không trọng hệ. Điều thật trọng hệ là sự hiểu biết đó, sự hiểu biết Cơ Trời đối với con người. Bởi vì Trời có một Cơ, mà Cơ đó là sự tiến hóa. Chừng nào con người thấu rõ được Thiên Cơ (God’s plan) và khi thật biết rồi, thì con người chỉ lo hiệp tác với Thiên Cơ, đồng hóa với Thiên Cơ và giúp cho Thiên Cơ được thực hiện. Đó là sự vinh diệu và sự tốt đẹp của con người. Ấy vậy, bởi con người hiểu biết rồi nên mới thuận theo lẽ Trời [1a], khắn khắn một lòng làm lành và chống chỏi với sự ác, lo giúp cho muôn loài vạn vật tiến hóa chứ không vì tư lợi.

Người mà thuận theo lẽ Trời tức là người một nhà với chúng ta, dầu y nói y giữ đạo Bà la môn hay giữ đạo Phật, giữ đạo Thiên Chúa Giáo hay giữ đạo Hồi, hoặc y nói y là người Ấn Độ hay là người Anh, người Trung Quốc hay là người Nga thì cũng không thành vấn đề. Những người nào thuận theo lẽ Trời thì biết rằng tại sao mình thuận theo vậy. Họ biết bổn phận mình phải làm cái chi và cố gắng hoàn thành công việc đó. Còn những người khác không thuận lẽ trời không biết mình phải làm điều chi, cho nên họ thường hành động như những kẻ ngông cuồng. Họ cố tạo ra những đường lối cho chính họ mà họ tưởng rằng chúng nó sẽ làm cho họ được hài lòng chớ không biết rằng “vạn vật đồng nhất thể”, và vì lẽ đó, chỉ ý Trời mới làm cho mọi người được thực sự đẹp lòng. Họ đeo đuổi theo sự mộng ảo chớ không phải sự chân thật và nếu ngày nào mà họ không học cách phân biệt hai việc ấy thì ngày đó họ chưa thuận theo lẽ Trời. Bởi vậy sự Phân Biện là bước đầu tiên.

Nhưng dẫu khi chọn lựa rồi đi nữa, con cũng phải nhớ rằng sự chân và sự giả có nhiều loại khác nhau; và con phải biết phân biệt cái lành với cái dữ, cái trọng hệ với cái không trọng hệ, cái hữu ích với cái vô ích, cái thực với cái hư, cái ích kỷ với cái vô tư lợi.

II.- Cách sinh hoạt của ba thể

Một bên lành, một bên dữ, có khó chi trong sự chọn lựa, bởi vì những người nào muốn theo Chân Sư thì đã nhất định làm lành, dẫu thế nào cũng vậy. Tuy nhiên, con người và xác phàm của nó là hai cái khác nhau; và ý chí của con người luôn luôn không phải là những gì xác phàm ham muốn. Khi xác phàm của con muốn cái chi, con hãy ngừng lại và suy nghĩ coi có phải thật là Con muốn cái đó chăng? Bởi vì Con là Thượng-Đế, và con chỉ muốn điều nào Thượng Đế muốn; nhưng con phải xét thấu trong cõi lòng con (hồi quang phản chiếu) được tìm Đức Thượng Đế và nghe lời của Ngài, lời của Ngài tức là lời của con vậy. Ðừng nhầm lẫn các thể của con là con. Cái xác phàm của con, cái vía của con, cái trí của con không phải là thật con đâu. Nhưng mỗi thể đó đều giả vờ xưng là con để đạt được những điều nó muốn. Con phải hiểu chúng nó hết và con phải tự biết rằng chính con là chủ của chúng nó.

Khi có một việc phải làm, cái xác phàm lại viện lẽ nó cần nghỉ ngơi, đi chơi, ăn uống; người chưa hiểu biết nói trong lòng rằng “Tôi cần làm mấy việc đó nên tôi phải làm mới được”. Còn người hiểu biết nói: “Cái xác của tôi muốn mấy việc đó chớ không phải tôi đâu, nó phải đợi mới được”. Thường khi có dịp phải giúp đỡ ai, xác phàm nghĩ như vầy: ” Việc đó sẽ phiền mình lắm!; để cho người khác làm đi”. Nhưng con người trả lời với xác phàm như vầy: “Ngươi không nên cản ta làm những việc tốt lành “.

Thân xác con vốn là con thú của con, con ngựa của con cỡi. Bởi thế, con phải đối đãi với nó cho tử tế và phải săn sóc nó kỹ lưỡng. Đừng bắt nó làm việc quá sức, phải nuôi nó cho đúng phép với những đồ ăn, thức uống tinh khiết và giữ gìn cho nó luôn thật sạch sẽ, đừng dung dưỡng một mảy bợn nhơ. Bởi vì không có một xác thân tinh khiết và tráng kiện, thì không thể nào con lo nổi công việc chuẩn bị khó khăn được bước vào đường Đạo, con không chịu nổi những sự rán sức không ngừng đâu. Vậy phải chính là con, người luôn luôn điều khiển, kiểm soát Thể xác đó chứ không phải là Thể xác đó điều khiển, sai khiến con.

Cái Vía của con có nhiều sự ước ao, – lên đến hàng tá; nó muốn thấy con nổi giận, nghe con ăn nói gắt gỏng, nó muốn thấy con ganh gỗ, tham lam tiền bạc, toan đoạt của cải thiên hạ và ngã lòng rủn chí. Nó muốn mấy điều đó và còn nhiều việc khác nữa, không phải nó có ý hại con, song tại nó ưa những sự rung động dữ dội và thay đổi liền liền. Trong mấy việc đó con không muốn việc nào cả, bởi vậy con phải phân biệt ý muốn của con với ý muốn của cái vía.

Cái Trí của con ưa thói kiêu căng chia rẽ, nghĩ nhiều về nó, và ít ngó ngàng gì đến kẻ khác. Dù khi con hướng trí con ra khỏi những việc trần gian được rồi, nó còn rán gom hết về cho bản ngã của con, nó giục con chú ý tới sự tiến hóa riêng của con, chớ không lo nghĩ đến công việc của Chân Sư và giúp đỡ kẻ khác. Khi con thiền định nó cố ra sức làm cho con nghĩ đến những chuyện lung tung khác mà cái trí nó muốn, thay vì chuyện duy nhất mà con muốn. Con không phải là cái trí đó đâu, nhưng nó vẫn là một thể của con để cho con xử dụng, vậy một lần nữa, nơi đây sự phân biện cũng cần thiết. Con phải giữ chừng liên tục, bằng không con sẽ thất bại.

III.- Điều lành và điều dữ


Huyền bí học (Occultism) không hề công nhận có sự thỏa hiệp giữa việc lành và việc dữ. Dầu thế nào cũng phải làm việc lành, con không nên làm việc ác, để mặc tình người không biết nói cái chi hay tưởng cái chi cũng được. Phải học hỏi cho rộng sâu những luật Trời còn ẩn tàng, và chừng biết rồi, con sắp đặt cuộc đời của con phù hợp với những luật đó, bằng cách luôn dùng đến lý trí và lương tri.

Phải phân biện việc trọng hệ với việc không trọng hệ. Đối với sự lành và sự dữ thì lòng con phải cứng như đá, còn những việc ít trọng hệ con luôn nhường cho kẻ khác. Bởi vì con phải ở cho dễ thương, tử tế, biết xét nét và thuận hòa, và để cho thiên hạ có đầy quyền tự do bằng quyền tự do mà con yêu cầu cho chính con vậy.

Hãy tìm kiếm coi việc nào đáng làm; và con phải nhớ rằng không nên coi theo giá trị bề ngoài của sự việc mà xét đoán chúng nó. Thà làm một chuyện nhỏ mọn mà hữu ích liền cho công việc của Chân Sư còn hay hơn làm một việc lớn lao mà thế gian gọi là tốt. Chẳng phải phân biệt cái nào hữu ích với cái nào vô ích là đủ, mà con còn phải phân biệt cái nào có ích nhiều với cái nào có ích ít. Nuôi kẻ nghèo là một việc tốt, cao quí và hữu ích; nhưng mà nuôi linh hồn mấy người đó lại còn cao quí và hữu ích hơn nữa. Người nào giàu cũng nuôi được thân xác, mà duy chỉ người hiểu biết mới nuôi được linh hồn. Nếu con hiểu biết rồi, bổn phận của con là phải giúp kẻ khác giác ngộ.

Nhưng dầu con đã khôn ngoan thế mấy đi nữa, con còn phải học hỏi nhiều trên Ðường Ðạo; nhiều đến nỗi ở đây con cũng phải dùng đến sự phân biện. Vậy con phải phân biện và chọn lựa cho thật kỹ càng cái nào đáng ra công học hỏi. Sự hiểu biết nào cũng hữu ích, và một ngày kia con sẽ biết đủ hết mọi việc; nhưng khi con biết có một phần, con phải gìn giữ làm sao cho phần đó hữu ích hơn hết. Đức Thượng Ðế vốn Minh triết và cũng là Từ ái vô biên; và hễ con được minh triết nhiều chừng nào thì con càng biểu lộ được Ngài nhiều chừng nấy. Vậy con phải học hỏi, nhưng trước hết con phải học hỏi điều nào sẽ giúp cho con nhiều nhất để con giúp đỡ người khác. Phải bền lòng chăm chú vào sự học hỏi của con, không phải được cho kẻ khác tưởng con là khôn ngoan, mà cũng không phải ý muốn được hưởng hạnh phúc của sự khôn ngoan, nhưng bởi người khôn ngoan mới có thể giúp đời một cách khôn ngoan. Dầu con mong ước giúp đời thế mấy đi nữa, nếu con dốt nát thì con sẽ làm hại nhiều hơn là làm lợi.

IV.- Phải hết sức ngay thật

Con phải biết phân biệt giữa cái chân và cái giả; con phải tập làm sao cho hết sức chân chánh trong mọi việc, từ tư tưởng, lời nói đến việc làm.

Thứ nhất là trong tư tưỏng. Cái nầy không phải dễ đâu, vì trong đời có biết bao nhiêu tư tưởng lầm lạc, biết bao nhiêu điều mê tín dị đoan phi lý, hễ ngưòi nào để cho chúng nó chi phối thì không bao giờ tiến bộ được. Bởi vậy con chẳng nên cho một tư tưởng nào là chân chánh bởi nhiều người đã cho nó là chân chánh, hay là tại thiên hạ đã tin nó mấy thời đại rồi, hoặc là thấy nó ghi ở trong một quyển sách thuộc về loại sách Thánh; con phải tự mình suy nghĩ và con phải tự phán đoán xem tư tưởng đó có hữu lý hay không. Con hãy nhớ rằng dầu cho có cả ngàn người đồng công nhận một việc kia đi nữa, nếu họ không biết cái chi trong đó hết thì ý kiến của họ vẫn vô giá trị. Người nào muốn bước trên Ðường Ðạo phải tập tự mình tư tưởng, bởi vì thói mê tín dị đoan là một trong những tội lỗi lớn nhất trên thế gian, một trong những chướng ngại con phải tự hoàn toàn giải thoát mới được.

Ðiều nào con suy nghĩ cho thiên hạ cũng phải trung thực. Con không được nghĩ cho kẻ khác điều nào mà con không biết rõ. Con đừng tưởng rằng thiên hạ hằng luôn nghĩ về con. Nếu một người kia làm một việc gì mà con ngỡ là có hại cho con hay là nói một chuyện nào dường như có can hệ tới con, chớ vội nghĩ ngay rằng: “Người đó có ý làm tổn thương tôi”. Có lẽ hầu như người đó không tưởng đến con chút nào, bởi vì mỗi linh hồn đều có những việc lo riêng của nó và những tư tưởng của linh hồn cũng chỉ tập trung dồn vào bản thân nó mà thôi. Nếu có một người nào nói giọng quạo quọ, con chớ nói rằng: “Người đó ghét tôi và muốn lăng nhục tôi”. Có lẽ tại một người nào hay là một việc chi đó làm cho y nổi giận, và vì người ấy tình cờ gặp con nên trút hết cơn giận lên đầu con cho đã giận. Người đó làm chuyện điên cuồng, bởi vì tất cả những sự nổi giận đều là sự điên cuồng, nhưng không phải vì cớ đó mà con nghĩ sai quấy về người ấy.

Chừng nào con làm đệ tử của Chân Sư rồi, con luôn có thể thử xem tư tưởng của con chân chánh hay không bằng cách để nó kế bên tư tưởng của Ngài. Bởi vì Thầy với trò vẫn “hợp nhất”, miễn trò đem tư tưởng mình kề với tư tưởng của Thầy thì sẽ thấy ngay hai tư tưởng có phù hợp với nhau hay không. Nếu không, thì tư tưởng của trò đã sai lầm, người đệ tử phải thay đổi lập tức, vì tư tưởng của Chân Sư vốn trọn lành, bởi Ngài thông hiểu hết mọi việc. Những người nào chưa được Ngài thâu nhận làm đệ tử chính thức [3] thì không thể làm như vậy; nhưng họ có thể tự giúp mình thật nhiều nếu họ thường ngừng lại tự hỏi như vầy: “Thầy sẽ nghĩ việc này làm sao? Gặp trường hợp này Thầy sẽ nói hay sẽ làm thế nào?”. Bởi vì không nên làm, nói hay nghĩ điều nào theo ý mình, mà Thầy không làm, không nói hay không nghĩ như thế”.

Lời nói của con cũng phải cho ngay thật nữa, – chính xác và không quá lố (phóng đại). Ðừng bao giờ gán nguyên do nào cho người khác, duy có một mình Thầy y biết tư tưởng y mà thôi. Không biết chừng y làm như vậy là tại duyên cớ gì đó mà con không bao giờ rõ được. Khi con nghe một câu chuyện có hại cho người nào đó, thì đừng lập lại nó; có thể câu chuyện đó không có thật, mà dầu có thật đi nữa, đừng nói đến mới là nhân từ hơn. Trước khi nói, con phải suy nghĩ cho kỹ lưỡng, vì e rằng con sẽ mắc vào cái lỗi không được chính xác.

Phải thành thật trong việc làm; đừng bao giờ kiếm thế khoe khoang điều nào mà con không có, vì tất cả sự giả trá đều là một tấm màn ngăn cản ánh tinh quang của chân lý chiếu xuyên qua lòng con như ngăn cản ánh sáng mặt trời rọi ngang qua tấm kiếng trong trẻo vậy.

V.- Tình bác ái và sự sống thiêng liêng

Con phải phân biện điều nào ích kỷ với điều nào không ích kỷ. Bởi vì sự ích kỷ có nhiều hình trạng lắm, và khi con nghĩ con trừ được tật ích kỷ trong một hình trạng nào rồi thì nó lại nảy sinh ra trong một hình trạng khác mạnh bạo như trước vậy. Nhưng lần lần sự lo giúp đỡ kẻ khác sẽ choán cả lòng con cho đến đỗi trong trí con không còn chỗ nào và giờ phút nào nghĩ tới con nữa.

Con còn phải phân biện một cách khác nữa. Phải học phân biệt Ðức Thượng Ðế trong mọi người, mọi vật, dầu cho vẻ bề ngoài người ấy hay vật ấy có tồi tệ, xấu xa đến đâu chăng nữa, thì Thượng Ðế vẫn ẩn tàng trong đó. Con có thể giúp huynh đệ của con là nhờ con với họ trong lòng đều có cái chung, đó là Sự Sống Thiêng Liêng. Con hãy học cách làm thế nào thức tỉnh Sự Sống đó trong người của họ và con hãy học cách làm thế nào khơi gọi Sự Sống đó trong người của họ. Như vậy con sẽ cứu huynh đệ con ra khỏi điều sai lầm.

THIÊN THỨ NHÌ: TÍNH DỨT BỎ


Tính dứt bỏ hay đoạn tuyệt chia làm năm khoản :

Một là : Dứt tuyệt sự ham muốn
Hai là : Duy có một điều ham muốn tốt hơn hết
Ba là : Những phép thần thông
Bốn là : Những sự ham muốn nhỏ nhen
Năm là : Hãy lo lắng việc nào có can hệ tới con

I.- Dứt tuyệt sự ham muốn


Đối với nhiều người thì điều kiện Dứt bỏ là một điều kiện khó tập được, bởi vì mấy người đó nghĩ rằng họ là những điều ham muốn ấy và nếu những điều ham muốn riêng tư, những thiện cảm và những bất thiện cảm của họ bị tước đi hết rồi thì bản ngã họ không còn chi. Nhưng mấy người đó chưa gặp được Chân Sư, nếu một khi đứng trước Thánh Dung, ở trong hào quang của Ngài thì mọi ham muốn đều tan mất hết, trừ ra muốn sao được như Ngài. Nhưng trước khi có được diễm phúc đối diện với Ngài, nếu con thật chí quyết thì con có thể đạt được điều kiện dứt bỏ này. Tính phân biện đã dạy rằng những chuyện mà phần đông con người tham muốn quá lẽ như là của cải, quyền thế thì không đáng nhọc công thọ lãnh chút nào. Song khi thật hiểu tại làm sao vậy – chớ không phải nói suông mà thôi – thì hết ước ao mấy điều ấy nữa.

II.- Duy có một điều ham muốn tốt hơn hết


Tới đây cả thảy đều dễ, miễn con hiểu là đủ. Nhưng có một số người không chịu đeo đuổi những mục đích trần tục mà chỉ cốt mong được về nước Thiên đàng, hay được riêng mình thoát khỏi đọa Luân hồi. Con đừng phạm lỗi đó. Nếu con thật quên mình rồi, con đâu còn nhớ hỏi lấy chừng nào linh hồn con mới được giải thoát, hay là nữa rồi đây nó sẽ về ở cảnh Trời nào. Con hãy nhớ rằng mỗi việc ham muốn ích kỷ dầu mục đích cao cả thế mấy đi nữa cũng đều trói buộc (là một sợi dây xiềng xích), và ngày nào con không loại hết các điều ham muốn này thì ngày đó con chưa thật rảnh rang để hiến mình cho công việc của Chân Sư.

Khi những ham muốn thuộc phàm nhân con tiêu mất rồi, cũng có thể còn một sự ham muốn là thấy được kết quả của công việc con làm. Nếu con giúp ai, con muốn biết con giúp người đó tới bực nào; có lẽ con cũng muốn cho người ấy hiểu con đã giúp họ tới cở nào và biết ơn con nữa. Mà cái này vẫn là một điều ham muốn, và cũng gọi là chẳng có lòng tin cậy. Khi con ra sức giúp, đương nhiên phải có kết quả, dẫu con thấy hay là không thấy cũng vậy. Nếu con thạo Luật Trời thì con biết rằng điều này phải như thế. Vậy thì con phải làm điều lành, bởi chưng ưa mến việc lành chớ chẳng phải trông mong được ban thưởng. Phải làm lụng vì chưng ưa mến sự làm lụng, chớ chẳng phải trông mong thấy cái kết quả. Con phải xả thân giúp đời vì con thương đời, và bởi con không làm thế nào khác nữa được.

III.- Những phép thần thông


Con đừng ham những phép thần thông. Con sẽ có chúng khi Chân Sư thấy lúc nào là tốt nhất cho con. Hễ cưỡng bách luyện tập được mở mấy phép đó quá sớm thì thường mang vào mình đủ thứ phiền não . Người nào có những phép ấy thì hằng bị bọn tinh linh ngũ hành gạt gẫm, hay là trổ tính khoe khoang và nghĩ rằng mình không lầm lạc. Dẫu thế nào, ngày giờ và sức lực tổn phí được luyện tập mấy phép đó nên để giúp đời còn hay hơn. Trong khi con mở mang những đức tính tốt thì tự nhiên con sẽ có các phép ấy. Nhất định thế nào cũng có chúng. Nếu Chân Sư thấy các phép ấy hữu ích cho con sớm một chút, thì Ngài chỉ cho con cách khai mở an toàn những phép thần thông ấy. Từ giờ cho đến lúc ấy tốt hơn con không nên có phép thần thông.

IV.- Những sự ham muốn nhỏ nhen

Con cũng phải giữ lòng đừng ham muốn những việc nhỏ mọn thường xảy ra trong đời sống hằng ngày. Chớ nên có ý khoe mình hay tỏ dấu thông minh. Ðừng ham nói, nói ít thì tốt, không nói chi lại càng tốt hơn nữa, trừ ra khi nào chắc chắn rằng những điều con muốn nói, chân chánh, dễ thương và hữu ích. Trước khi nói con hãy tự hỏi coi điều con muốn nói ra có đủ ba đức tính đó không; nếu không, thì con phải làm thinh.

Giờ đây, tốt hơn là tập thói quen suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi nói; bởi vì khi con được điểm đạo rồi, con phải giữ gìn từng lời nói vì e rằng con sẽ nói những gì không được nói . Đừng ham nói chuyện tầm phào, vô vị, không cần thiết; nếu kéo ra chuyện nói hành thiên hạ thì đó là điều ác độc, tội lỗi. Vậy thì con hãy tập cho quen tính nghe hơn là nói; đừng nêu ý kiến trừ phi được hỏi trực tiếp. Có một câu gồm hết các đức tính phải tập là: Tri, Cảm, Nguyện, Mặc. (nghĩa là: phải hiểu biết, phải có gan dạ, phải chí quyết và phải nín thinh – Savoir, oser, vouloir, se taire). Mà cái đức taính chót là khó hơn hết.

V.- Hãy lo lắng việc nào có can hệ với mình


Còn một ham muốn thông thường khác mà con phải bài trừ một cách nghiêm khắc là xen vào chuyện thiên hạ. Cái điều nào người khác làm được, nói được hay tin được thì không ăn nhập chi với con; và con phải học thói quen để cho y tuyệt đối làm một mình. Y có toàn quyền tự do trong tư tưởng, lời nói và việc làm miễn là y đừng xen vào chuyện của người khác. Con đây cũng vậy, con yêu cầu có quyền tự do làm cái chi mà con nghĩ rằng đúng; vậy thì con cũng phải để cho kẻ khác được tự do như con vậy; và khi y dùng quyền tự do của y thì con không có quyền kích bác.

Nếu con tưởng rằng y làm quấy, và con có thể sắp xếp cơ hội để trình bày riêng với y một cách hết sức lịch sự vì cớ nào con không nghĩ như thế; thì có thể con thuyết phục được y; nhưng có nhiều trường hợp khi can thiệp như vậy cũng còn không phải cách nữa. Dầu thế nào con cũng đừng đem chuyện đó nói với người thứ ba, vì đó là một hành động cực kỳ ác độc.

Nếu con thấy ai đối xử hung ác với một đứa trẻ hay một con thú , bổn phận con phải là can thiệp. Nếu con thấy ai làm nghịch với luật pháp của quốc gia, con phải báo với nhà chức trách. Nếu con lãnh phần giáo hóa người nào, bổn phận con là phải chỉ cho y biết lỗi của y một cách êm ái. Trừ ra mấy lẽ nói trên đây, con phải để tâm vào công việc riêng của con và tập tánh làm thinh.


THIÊN THỨ BA: HẠNH KIỂM TỐT


Chân Sư kể sáu điểm đặc biệt thuộc về hạnh kiểm tốt buộc phải có như sau đây:

Một là : Tự chủ trong khi tư tưởng
Hai là : Tự chủ trong lúc hành động
Ba là : Đức khoan dung
Bốn là : An phận
Năm là : Đi thẳng một đường tới mục đích
Sáu là : Lòng tin cậy

(Tôi vẫn biết có chỗ dịch tên vài khoản tôi mới kể ra khác hơn tôi và cũng dịch khác các đức tính buộc phải có nữa. Nhưng tôi luôn luôn lấy những tên mà Chân Sư dùng trong lúc Ngài cắt nghĩa cho tôi nghe).

I.- Tự chủ trong khi tư tưởng


Tính dứt bỏ dạy rằng phải kiểm soát cái Vía, và vái Trí cũng phải được kiểm soát nữa. Ðiều này nghĩa là kiểm soát được tánh nóng nảy sao cho con không còn nổi giận hay nôn nóng; kiểm soát cái trí sao cho tư tưởng luôn được yên tịnh và không dao động; và cuối cùng qua cái trí, kiểm soát (trấn áp) những dây thần kinh được chúng ít bị kích thích, khó chịu chừng nào tốt chừng nấy. Ðiểm chót này khó làm được, bởi vì khi con cố gắng tập luyện để bước vào Ðường Ðạo thì thân xác con theo đó nhạy cảm hơn, do vậy, những dây thần kinh của con dễ dàng bị kích động bởi âm thanh hay sự va chạm mạnh và dễ bị căng thẳng vô cùng . Nhưng con phải rán hết sức mình thôi.

Cái Trí yên tịnh cũng có nghĩa là gan dạ để con có thể chống chỏi với những cách thử lòng và những sự khó khăn trên Ðường Ðạo mà không nao núng; cái trí yên tịnh cũng có nghĩa là bền lòng để con co 1thể sáng suốt giải quyết được những chuyện rắc rối đến trong đời sống và tránh sự lo lắng không ngớt những việc nhỏ mọn làm cho nhiều người mất gần hết ngày giờ. Chân Sư dạy rằng: “Con người phải coi những việc ở ngoài xảy đến cho mình như sầu não, những chuyện rắc rối, bịnh tật cùng những chuyện mất mát không có quan trọng chi cả; phải coi chúng nó chẳng ra gì và đừng để cho chúng nó làm rối trí. Chúng nó là cái kết quả những việc làm hồi trước, chừng chúng nó đến thì phải vui lòng lãnh lấy. Con hãy nhớ rằng: mọi việc khổ não trên thế gian đều là tạm thời, bổn phận của con phải luôn luôn vui vẻ và giữ lòng thanh tịnh. Những việc đó thuộc kiếp trước của con chớ không phải kiếp này; con không thể sửa đổi cái gì được, bận lòng vì chúng nó rất vô ích. Tốt hơn là hãy nghĩ đến những việc con làm bây giờ đây, chúng nó định phần số con kiếp sau, và con có thể sửa đổi chúng nó được.

Đừng buồn bực hay nhụt chí. Rủn chí là sai lầm tệ hại, bởi vì nó truyền sang kẻ khác (làm họ nản chí theo) và làm cho đời sống của họ khó khăn hơn, con không được phép làm điều đó. Vì thế con phải xua đuổi nó đi ngay lập tức, mỗi lần con biết nó đến.

Con còn phải làm chủ tư tưởng con một cách khác nữa. Đừng để cho nó vẩn vơ. Bất kỳ con đang làm việc gì, con phải chú ý tập trung vào đó được làm cho được hoàn hảo. Chẳng nên để trí con ở không, con phải luôn có sẵn nhiều tư tưởng tốt đẹp ở trong trí được khi nào cái trí không bận việc gì thì con nhớ tới những tư tưởng ấy liền.

Mỗi ngày con hãy dùng quyền năng tư tưởng của con cho những mục đích tốt lành. Hãy tạo thành một lực lượng hướng về sự tiến hóa. Mỗi ngày con hãy nhớ đến một người nào mà con biết đương sầu muộn hay đau khổ hoặc là cần sự giúp đỡ; con hãy tuôn rải những tư tưởng yêu thương đến cho y.

Hãy kềm giữ cái trí con đừng kiêu căng, vì sự kiêu căng luôn luôn do sự dốt nát sinh ra. Người chưa hiểu biết nghĩ rằng mình vĩ đại, và làm được điều này điều kia lớn lao; người khôn ngoan biết rằng duy có một mình Trời là vĩ đại và việc lành nào cũng đều do Trời làm cả.

II.- Tự chủ trong lúc hành động

Chừng nào tư tưởng của con ổn định rồi (hoặc dùng đứng đắn rồi), thì con hành động rất dễ dàng. Nhưng con hãy nhớ rằng muốn giúp đời, tư tưởng phải biến thành hành động. Không nên biếng nhác, phải cần mẫn làm việc hữu ích. Phải làm việc chi thuộc bổn phận của con chớ không phải thuộc về bổn phận của người khác, trừ ra khi nào có y cho phép và ý con muốn giúp đỡ y. Con hãy để cho mỗi người làm việc riêng của y theo ý y muốn. Nếu cần thì con hãy sẵn lòng giúp đỡ, nhưng đừng bao giờ xen vào việc thiên hạ. Ðối với nhiều người thì ở trên đời chuyện khó hơn hết là sự tập lo lắng công việc riêng của mình; nhưng đó chính là điều mà con phải làm.

Khi con cố gắng tập làm một việc cao thượng hơn thì con không nên vì cớ đó mà bỏ phế bổn phận thường ngày của con; nếu con làm mấy chuyện này không xong thì con đâu có rảnh rang để làm việc khác. Đối với đời thì con không nên nhận lãnh những nghĩa vụ nào mới cả; ngoại trừ những việc con đảm đương đây thì con phải làm cho hoàn tất. Thầy muốn nói những nghĩa vụ mà con biết rõ ràng và hữu lý chớ không phải những nghĩa vụ mơ hồ của người đời cố buộc con thi hành. Nếu con muốn một ngày kia là đệ tử của Chân Sư thì phải làm những công việc thường ngày giỏi hơn mấy kẻ khác chớ không phải tệ hơn, bởi vì con làm việc đó cũng là nhân danh Ngài.

III.- Đức khoan dung


Con phải hết lòng khoan dung với mọi người và nhiệt thành quan tâm đến tín ngưỡng của những người thuộc về tôn giáo khác cũng nhiều như là con quan tâm đến tín ngưỡng của con vậy. Bởi vì tôn giáo của họ và tôn giáo của con đều là con đường đạo dẫn đến chỗ cao hơn (con đường dẫn đến Thượng Ðế). Muốn giúp đỡ tất cả mọi người thì con phải thông hiểu hết họ.

Nhưng để đạt được lòng khoan dung hoàn toàn này thì trước nhất con phải tự giải thoát khỏi sự tin tưởng mù quáng và mê tín dị đoan. Con phải hiểu rằng chẳng có lễ bái nào cần thiết cả; bằng không thì con sẽ nghĩ rằng con giỏi hơn mấy người không hành lễ. Nhưng con cũng đừng chê trách những người nào còn ưa mến lễ bái. Hãy để họ muốn làm chi thì làm; chỉ có điều là họ không được cản trở con là người đã biết chân lý rồi. Họ không được dùng cường lực ép buộc con làm điều gì mà con đã trải qua rồi. Trong mọi việc con phải khoan dung và tử tế.

Bây giờ tầm mắt con đã mở rộng, thì có vài điều tín ngưỡng, vài cách lễ bái của con hồi trước kia dường như phi lý lắm vậy. Có lẽ mấy việc đó phi lý thật. Song dẫu rằng bây giờ đây có thể con không còn tham dự vào mấy việc ấy nữa, con cũng phải kính trọng chúng, bởi vì những linh hồn tốt ấy vẫn coi chúng quan trọng lắm. Mấy cuộc lễ bái đó có chỗ dùng và ích lợi của nó. Chúng nó giống như những hàng đôi giúp con hồi còn nhỏ viết được đều và ngay thẳng cho tới chừng nào con viết giỏi hơn và dễ dàng rồi thì con không cần chúng nữa. Hồi trước có một lúc con cần chúng nó mà bây giờ đây thời kỳ đó đã qua rồi.

Một vị Ðại huấn Sư đã có lần viết như vầy: “Hồi tôi còn con nít, tôi nói theo thói con nít, tôi hiểu theo thói con nít, tôi nghĩ theo thói con nít; mà tới chừng tôi trở nên người lớn tôi bỏ hết các thói con nít“. Nhưng mà người nào quên lúc ấu xuân của mình và không có lòng thương cảm với con nít thì không thể nào dạy dỗ hoặc giúp đỡ chúng được. Vì vậy con hãy đối với mọi người cho tử tế, hiền hậu, độ lượng. Và coi ai nấy cũng như nhau, dầu họ là người Phật giáo hay là người Ấn Giáo, người Gianh (Hỏa thần giáo) [4] hay là người Do Thái giáo, người Thiên Chúa giáo hay người Hồi giáo cũng vậy.

IV.- An phận

Phải vui lòng trả quả của con, dầu nó thế nào cũng vui trả. Phải nhận lãnh sự đau đớn, khổ sở như là một vinh diệu, vì nó chứng tỏ rằng các Đức Nam Tào Bắc Đẩu thấy con đáng giúp đỡ. Dầu quả báo của con có nặng thế mấy đi nữa, con cũng phải cám ơn các Đấng Chí Tôn không cho con trả nhiều hơn cái đó. Hãy nhớ rằng : ngày nào mà quả xấu của con chưa tiêu hết, và con chưa thoát khỏi được nó thì ngày đó con chưa giúp ích cho Thầy bao nhiêu. Khi con hiến thân cho Thầy thì con xin nhồi quả cho con được làm sao trong một hai kiếp con trả sạch nhân quả của con, không vậy thì cả trăm kiếp nữa con trả mới hết. Tuy nhiên để thực hiện công việc trả quả tốt nhất, con phải vui vẻ và sẳn lòng đón nhận nghiệp quả.

Còn một điểm khác nữa: Hãy diệt đi tất cả ý muốn sở hữu của con (thuộc về mình mãi mãi). Có lẽ nghiệp quả làm cho con mất đi những vật mà con quí chuộng hơn hết – thậm chí là những người mà con yêu thương nhất. Vậy thì con phải vui vẻ sẵn lòng chia lìa bất kỳ mọi người mọi vật. Thường thường Chân Sư cần dùng học trò làm trung gian được sang thần lực cho kẻ khác. Nếu trò ngã lòng rủn chí thì Thầy không làm chi được. Bởi vậy an phận là quy tắc nhất định.

V.- Đi thẳng một đường tới mục đích


Có một điều con phải nhớ trước tiên là con làm công việc của Chân Sư. Dầu có chuyện nào khác tới cho con đi nữa con cũng đừng bao giờ quên việc đó. Kỳ thật, không có việc gì khác tới được bởi vì các việc hữu ích và vô tư lợi đều là công việc của Chân Sư, và con phải làm công việc ấy vì Ngài. Con phải đặt tất cả sự chú ý của con vào mỗi phần việc con làm cốt sao cho công việc ấy sẽ là phần tốt nhất của con. Cũng vị Đại huấn sư trên có viết câu nầy: “Dẫu làm việc chi cũng vậy, con phải làm thật hết lòng, như thể làm cho Đức Thượng Ðế chớ không phải làm cho con người”. Con hãy tự hỏi con phải làm công việc thế nào nếu con biết liền ngay đó Chân Sư sẽ đến xem . Con phải nghĩ như vậy khi con làm tất cả công việc của con. Những người có kinh nghiệm nhất sẽ hiểu hết ý nghĩa của đoạn này. Nhưng còn một câu xưa hơn câu trước nữa mà cũng cùng một nghĩa : “Dẫu tay con làm việc nào cũng vậy, con cũng phải làm nó hết lòng, hết sức của con “.

Đi thẳng một đường tới mục đích cũng có nghĩa là khi con bước vào đường Đạo rồi thì không có chi làm con lìa bỏ Đạo được, dầu là trong giây phút. Ðừng để những sự cám dỗ, những cuộc vui vẻ của thế gian, những sự yêu thích dưới hồng trần làm con lạc bước. Bởi vì chính con với Đường Ðạo phải trở nên một. Đường Đạo tức là con. Con bước trên Ðường Đạo mà không cần nghĩ tới nó, và con cũng không thể rời nó được nữa. Con là Chân Thần, con đã quyết định như vậy. Nếu con lìa bỏ nó tức là con lìa bỏ chính con vậy.

VI.- Lòng tin cậy


Con phải có lòng tin cậy vào Chân Sư mà con cũng phải tự tin nơi con nữa. Nếu con đã thấy Ngài rồi thì dầu đầu thai mấy kiếp đi nữa con cũng hết lòng tin cậy Ngài. Nếu như con chưa thấy Ngài, thì con phải rán tưởng tượng ra Ngài và hằng tin cậy Ngài, bằng không vậy Ngài không thể giúp được con. Nếu con chẳng hết lòng tin cậy thì từ ái và thần lực không thể nào truyền qua hoàn hảo được.

Con phải tự tin nữa. Con nói rằng con tự biết rõ con lắm ư ? Nếu con nghĩ như thế thì con không tự biết con đâu. Con chỉ biết cái vỏ mong manh ở ngoài thường lấm bùn. Còn con, thật con là một Điểm Linh Quang của Đức Thượng Ðế; và Đức Thượng Ðế pháp lực vô biên ở trong con, và vì vậy nếu con thật có ý chí thì không có chuyện nào mà con không làm được. Con hãy tự nói với chính con như vầy: “Ðiều nào con người đã làm rồi thì con người có thể làm được. Tôi là một con người mà cũng là Thượng Ðế ở trong con người nữa nên tôi có thể làm được điều này và tôi nhất định làm được.” Nếu con muốn bước vào Ðường Ðạo thì ý chí của con phải cứng như thép đã trui vậy.

THIÊN THỨ TƯ: LÒNG TỪ ÁI


Lòng Từ ái chia làm sáu điểm :

Một là : Thoát kiếp luân hồi
Hai là : Lòng từ ái trong sự sinh hoạt hằng ngày
Ba là : Sự nói hành
Bốn là : Điều hung ác
Năm là : Thói dị đoan
Sáu là : Phụng sự

I.- Thoát kiếp luân hồi


Trong mấy điều kiện buộc phải có, thì lòng Từ ái trọng hệ hơn hết, bởi vì nếu một người có lòng từ ái đủ mạnh rồi thì lòng từ ái sẽ thúc đẩy người ấy khuất phục được những tính còn lại, và những tính còn lại không có lòng từ ái thì sẽ chẳng bao giờ được đầy đủ, trọn vẹn. Người ta thường giải thích rằng lòng từ ái như là ý muốn nhiệt liệt thoát khỏi vòng sinh tử và được hợp nhất với Thượng Đế (Phản bổn huờn nguyên). Song giảng như thế thì lòng từ ái dường như còn vị kỷ (nghĩ đến mình) và cắt nghĩa chỉ có một phần. Lòng từ ái còn hơn là ý muốn đó nhiều, ấy là ý chí, lòng quả quyết, sự quyết tâm. Muốn có kết quả thì sự quyết tâm này phải thấm nhuần lòng con cho tới chừng nào không còn chỗ chứa một tình ý nào khác nữa. Thực ra, đó là quyết chí hiệp nhất với Đức Thượng Ðế không phải để tránh sự mệt nhọc và khổ não, nhưng vì lòng con yêu thương Ngài tha thiết mà con làm việc cùng với Ngài và làm y như Ngài vậy. Bởi Đức Thượng Ðế vốn Từ bi, nên nếu con muốn hiệp nhất với Ngài thì con phải đầy lòng nhân từ và hoàn toàn vị tha, chẳng hề có một mảy may gì tư lợi.

II.- Lòng từ ái trong sự sinh hoạt hằng ngày


Trong sự sinh hoạt hằng ngày, thì lòng từ ái có hai nghĩa ; một là : Con phải tránh cho khéo đừng làm sinh vật nào đau đớn; hai là : Con phải lừa dịp để giúp đỡ.

Trước hết, là đừng gây thiệt hại. Trên đời, có ba tội làm hại hơn mọi việc: thứ nhất là chuyện nói hành, thứ nhì là điều hung ác, và thứ ba là thói mê tín dị đoan, bởi vì chúng là những tội chống lại lòng từ ái. Người nào muốn trong lòng chan chứa tình yêu thương của Thượng Ðế phải không ngừng canh chừng để tránh ba tội ấy.

III.- Sự nói hành (nói xấu kẻ khác)


Con hãy xem coi sự nói hành làm hại là thể nào. Nó bắt đầu bằng một tư tưởng xấu, và chính tư tưởng xấu đó là một trọng tội rồi. Bởi vì trong mỗi người và mỗi vật đều có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta có thể tăng thêm sức mạnh cho sự tốt hay sự xấu khi ta nghĩ tới chúng nó, và làm như vậy ta có thể thúc giục hay là trì hoãn sự tiến hóa. Chúng ta có thể vâng lời Đức Thượng Ðế hay là chống lại Ngài. Nếu con nghĩ tới điều xấu của kẻ khác thì con đang làm ba việc ác độc một lượt.

Một là : Con sinh sản chung quanh chỗ con ở đầy những tư tưởng xấu xa thay vì những tư tưởng tốt lành, và như vậy thì con thêm điều khổ não cho đời.

Hai là : Nếu người đó thật có tính xấu trong lòng như con nghĩ, thì con nuôi dưỡng tính xấu đó và thêm sức mạnh cho nó. Vậy thì con làm cho bạn con trở nên xấu thêm thay vì trở nên tốt hơn. Nhưng thông thường người ta không có tính xấu ấy, tại con chỉ tưởng tượng đó thôi; và rồi tư tưởng xấu của con đến xúi giục y làm quấy, vì thế, nếu bạn con chưa trọn lành thì con làm cho y thành giống in (hoặc là bỏ bớt in) như ý tưởng mà con đã nghĩ về y.

Ba là : Con sinh sản trong trí của riêng con đầy những tư tưởng xấu thay vì những tư tưởng tốt, như vậy, con trì hoãn sự tiến hóa của con và phô bày cho người có mắt thánh xem thấy một cảnh tượng rất xấu xa ,đau lòng, thay vì đẹp đẽ và dễ thương.

Sự nói hành không ngừng ở chỗ gây hại cho người nói hành và nạn nhân của hắn, mà sự nói hành còn cố thôi thúc người nói hành lôi kéo nhiều người khác dự phần vào tội ác của y. Người nói hành lật đật mang chuyện ác độc của y nói cho mấy người ấy và hi vọng rằng họ sẽ tin bằng thật. Rồi thì cả thảy xúm nhau lại rải một dọc tư tưởng xấu vô trí người bị nói hành đau khổ đáng thương kia. Ngày này qua ngày kia, cả ngàn người làm như vậy chớ không phải có một người mà thôi đâu. Bây giờ đây con bắt đầu thấy chuyện nói hành là một tội đê hèn và gớm ghiếc thế nào chưa ? Con phải hoàn toàn tránh nó. Con đừng nói xấu ai; con cũng đừng nghe người ta nói việc xấu của kẻ khác; và hãy bảo cho họ biết một cách êm ái như vầy : “Có lẽ việc đó không có thật. Mà dầu có thật, đừng nói đến mới thiệt có lòng nhân từ hơn nữa”.

IV.- Điều hung ác


Còn sự hung ác thì có hai loại: một là cố ý ác; hai là vô ý ác. Cố ý ác là có ý làm cho một sinh vật đau đớn; tội này lớn nhất trong các tội; là công việc của ma quỉ làm chớ không phải của con người . Con sẽ nói rằng con người không ai làm điều như vậy. Nhưng mà có nhiều người đã thường làm ác; và còn đang làm hàng ngày nữa. Những vị pháp quan của tòa án tôn giáo thuở xưa [5] đã làm ác. Biết bao nhiêu người nhân danh đạo mình mà làm ác. Những người giải phẫu sinh thể (mổ xẻ thú vật còn sống được học cách thực nghiệm) làm ác; nhiều vị giáo chức có thói quen làm ác lắm. Mấy vị đó kiếm thế bào chữa tính tàn nhẫn của mình nên nói rằng : “Cái đó là tại tục lệ”. Nhưng không phải vì nhiều người đồng phạm một tội trọng mà tội trọng đó hết còn là một tội nữa. Quả báo không bỏ qua vì nó là tục lệ đâu; và nghiệp quả của của sự ác độc thì khủng khiếp nhất trong tất cả các tội. Ở Ấn Độ thì không thế nào chữa lỗi về tục lệ hung ác đó được, vì ai nấy đều biết bổn phận mình không nên làm cho con người hay loài vật đau khổ. Những kẻ nào viện cớ vì mục đích “thể thao” [6] mà ưa sát hại loài vật của Trời sinh ra thì sẽ bị nhận lãnh một số mạng ác nghiệt (do nghiệp quả của chính mình, phản hồi bởi luật nhân quả).

Thầy biết rằng con sẽ không làm như vậy được, và bởi vì lòng con thương Đức Thượng Ðế nên khi gặp dịp tức thì con sẽ biện minh để phản kháng ngay. Nhưng mà trong lời nói cũng có sự hung ác như trong việc làm. Người mà thốt ra một lời cố ý làm tổn thương người khác thì cũng phạm tội ác vậy. Điều đó con cũng sẽ không làm đâu. Nhưng thỉnh thoảng một lời nói bất cẩn cũng làm hại nhiều y như lời nói ác độc. Vậy con phải luôn xem chừng để tránh tội vô ý ác này.

Sự vô ý ác này luôn luôn bắt nguồn từ sự thiếu suy nghĩ. Một người kia quá tham lam bỏn xẻn không hề nghĩ đến sự đau khổ của y gây ra cho người khác vì tiền công y trả cho họ hẹp hòi hay sự đau khổ vì đói rách của vợ con y do chính y gây ra. Một người khác chỉ nghĩ đến cuộc vui riêng của mình (thú vui nhục dục) và ít quan tâm tới biết bao linh hồn và thể xác đã vì sự thỏa mản của mình mà bị hủy hoại. Một người khác nữa muốn tránh một vài phút lôi thôi phiền phức nên đúng ngày mà không trả tiền công cho thợ thầy, và không thèm kể đến sự khó khăn mà những người ấy gánh chịu do sự trễ nải của y. Có biết bao sự đau đớn chính là do bởi tính bất cẩn, thiếu suy nghĩ gây ra vì quên phứt rằng một hành động sẽ ảnh hưởng đến những người khác như thế nào. Mà con người dầu chẳng nhớ đi nữa, quả báo cũng không hề quên đâu. Nếu con muốn bước vào Ðường Ðạo, thì con phải nghĩ đến hậu quả của những gì mà con làm vì e rằng con sẽ vướng phải tội vô ý ác.

VI.- Thói mê tín dị đoan


Mê tín dị đoan là một mối hại rất lớn khác, nó sinh ra biết bao nhiêu sự hung ác rùng rợn. Người nào làm nô lệ cho nó rồi thì coi thường những người khôn ngoan hơn mình, và lại cố ép họ làm y như mình vậy. Hãy nghĩ đến sự tàn sát ghê gớm vì thói mê tín dị đoan đòi hỏi sự giết thú vật được cúng tế. Và cũng còn một thói dị đoan độc địa hơn nữa, đó là cho rằng con người cần ăn thịt mới sống được. Hãy nghĩ tới những điều đau khổ mà sự mê tín dị đoan đã gây ra cho các hạng dân bị áp chế ở nước Ấn Độ yêu quí của chúng ta, và hãy xem coi sự mê tín dị đoan này sinh ra biết bao nhiêu sự nhẫn tâm độc ác trong đám người đã biết tình huynh đệ rồi. Có nhiều tội ác mà con người đã nhân danh Thượng Ðế từ bi gây ra bởi sự xúi bẩy của cơn ác mộng về mê tín dị đoan này. Do đó hãy coi chừng kỹ lưỡng đừng để một mảy may mê tín dị đoan nào còn sót lại trong lòng con.

VI.- Phụng sự


Con phải tránh ba tội trọng này, chúng nó là những tội nghịch với lòng từ ái cho nên cản trở hết các sự tiến hóa. Nhưng con không phải chỉ tránh sự ác mà thôi; con còn phải cần mẫn làm việc lành mới được. Trong lòng con phải tràn ngập ý muốn nhiệt liệt phụng sự cho đến đỗi con luôn trông chừng để ra tay giúp đỡ hết thảy các loài ở chung quanh con, chẳng những là con người mà cho tới loài cầm thú và thảo mộc nữa. Con phải giúp đỡ qua những việc nhỏ mọn hằng ngày để tạo thói quen được sau này khi việc lớn đưa đến thì không bỏ lỡ những dịp hiếm có để phụng sự. Bởi vì nếu con chí quyết hiệp nhất với Đức Thượng Ðế thì chẳng phải con muốn được phần con, mà để con thành một vận hà đem đức Từ ái của Ngài ban rải cho mấy anh em con.

Người nhập Ðạo rồi không sống cho riêng mình mà chỉ sống vì những kẻ khác thôi; y đã quên mình để có thể phụng sự người khác . Y là cây viết trong bàn tay Đức Thượng Ðế, nhờ đó tư tưởng của Ngài mới tuôn xuống trần gian, và nếu không có cây viết này thì tư tưởng của Ngài không thể phô diễn ra được. Ðồng thời y cũng là một ngọn đuốc linh động chiếu rọi khắp thế gian đức Từ bi của Thượng Đế chan chứa ở trong lòng y.

Có minh triết con mới có thể giúp đời, còn ý chí để dắt dẫn sự minh triết, và từ ái lại gây ra ý chí. Ấy là những điều kiện mà con cần phải có. Ý chí, minh triết, từ ái là ba trạng thái của Ðức Thượng Ðế. Nếu con muốn hiến mình phụng sự Ngài, thì con phải biểu lộ ba trạng thái ấy trong thế gian này.

HẾT


I

Attendant la parole du Maître,
Guettant la lumière cachée,
Ecoutant pour saisir ses ordres,
Au milieu même de la bataille.

II

Attentif à son moindre signe,
Au dessus de l’immense foule,
Entandant son léger murmure,
A travers les chants bruyants de la terre.

I

Trông Thầy nhỏ phước phán lời lành.
Sáng ẩn, rình xem, bỏ lợi danh.
Lặng lẽ mong nghe Người hạ lệnh,
Quản bao giữa đám cạnh cùng tranh.

II

Chăm chăm trông dấu chốn linh đài,
Thoát tục mặc dầu thế mỉa mai.
Văng vẳng lời vàng Thầy khuyến thiện.
Ngoài tai rộn rả tiếng Trần ai.

(Hai bài này vốn của ông Đốc Phủ LÊ THÀNH LONG Bà Rịa thích nôm )

Tôi lấy ý nghĩa tám câu chữ Pháp đặt ra một bài tứ tuyệt như vầy:

Đạo không rời bước chẳng lìa mình,
Chi sá phồn hoa cảnh sắc thinh,
Chăm chỉ xem qua từ nét dấu,
Nghe Thầy dạy dỗ chữ đinh ninh.

BẠCH LIÊN

ĐỀ THI

I

Không tham danh lợi khỏi ưu phiền,
Niệm chữ từ bi dứt nghiệp duyên.
Vớt kẻ trầm luân nơi khổ hải,
Noi theo tôn chỉ Hội Quần Tiên.

II

Phá đường mê tín vạch chông gai
Khó nhọc dường bao dạ chẳng nài.
Ðã nguyện thân phàm đem độ thế,
Bắc cầu cho kẻ đến Bồng Lai.

BẠCH LIÊN
__________________
Chỉ khi nào anh chị em biết thương linh hồn mình thì anh chị em mới có thể thương mọi người được (thầy Đáng)

- Không tốt - xấu, đúng - sai
- Không bận tâm lo lắng
- Không hơn thua tranh chấp
- Không đề cao cá nhân
- Không đố kỵ hiềm khích
- Không ích kỷ hẹp hòi

thay đổi nội dung bởi: Luciola, 20-02-2014 lúc 2:48 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến Luciola vì bài post hữu ích này:
haidong (20-02-2014)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Sự trung thực của các xác chết thatsonphutu Trị bệnh 3 22-09-2013 8:19 pm
Một phút minh triết thatsonphutu Tâm linh 0 09-05-2012 12:19 pm
Một tầm nhìn minh triết thien thu 2 Thư giản - Linh tinh 32 14-04-2011 4:17 am
Tam linh thien dinh thatsonphutu Tâm linh 1 17-10-2009 10:10 pm
Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh ( Mật Tông đại chú ) matma8x Cõi vô hình 7 26-07-2009 1:20 pm

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles