UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Những bài viết chọn lọc

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Mình có cần được cởi trói không?
Old 31-10-2007, 7:55 pm  
NATO
No Action, Talk Only
 
NATO's Avatar
 

Post Mình có cần được cởi trói không?
Trong hơn mười năm, tôi may mắn có cơ duyên theo học đạo với nhiều vị thầy tâm linh, hữu hình lẫn vô hình. Mặc dù mỗi thầy đều có đường hướng riêng, nhưng có những điểm mà các vị cho là quan trọng, nay tôi xin tóm gọn lại để chia sẻ với các bạn đạo. Điều nào bạn thấy tâm đắc thì dùng, điều nào không thích thì xin bỏ qua cho.

Câu hỏi đặt ra ở đây là làm sao để tháo gỡ những trói buộc còn vướng lại trên con đường tu? Chỉ khi mình ý thức được mình đang đi qua giai đoạn nào thì mới có khả năng tự tháo gỡ. Sau đây là những giai đoạn mà người tu thường kinh qua, có thể cần được cởi trói:
(1) Chấp pháp, chấp Thầy: Khi mới bắt đầu, ta còn chưa rõ ràng nên cần phải dựa vào pháp tu và dựa vào những vị Thầy. Thường thì trong thời gian nầy, ta nhất quyết là pháp tu của mình và Thầy của mình là nhất, là tuyệt đối. Điều nầy giúp ta chuyên tâm học tập và năng nổ thực hành hơn. Nếu chỉ “chấp” ở mức độ nầy thì cũng không sao, nhưng nếu vì thế mà ta xem thường và đả phá các Thầy khác, các đường tu khác thì có nghĩa là ta đã tự trói mình. Một trong những mục tiêu của tu là để chuyển hóa, để giải phóng hết mọi năng lực xung đột (nghiệp thức) trong ta, để mở rộng dần tâm thức ta cho đến khi thành Một với Tất Cả. Khi chấp pháp, chấp Thầy quá nặng, ta có thể trở thành cực đoan, mê muội. Một trong những mối nguy nữa là nếu có khi nào đó ta chợt nhận ra sự bất toàn của pháp môn hoặc của Thầy mình, ta sẽ chới với và có những phản ứng tiêu cực rất mạnh. Thậm chí, có người vì quá thất vọng đã bỏ luôn pháp, bỏ luôn đường tu.

(2) Chấp đẳng cấp, thăng tiến tâm linh: nhiều trường phái chú trọng việc thăng tiến tâm linh qua quá trình tiến bộ, cải thiện, có bậc thang đi lên, có đẳng cấp. Thật sự thì có những loại đẳng cấp tu tập hoàn toàn không dính líu gì đến trình độ tâm linh. Cũng có những thứ bậc khả dĩ có thể biểu hiện một phần nào góc cạnh của tâm linh, nhưng không nhất thiết là đúng cho tất cả mọi trường hợp. Hơn nữa, có trường phái đo tâm linh bằng chiều sâu của sự thức giác, có trường phái đo bằng chiều cao của hiểu biết, còn trường phái khác lại đo bằng chiều rộng của tâm thức, hoặc có khi đo bằng mức độ buông bỏ. Vì vậy, khi ta nhận định ai, ta phải biết mình đang ở trong loại trường phái nào, cũng như biết cái nhìn của ta theo thước đo của chiều nào vậy. Vì thế, ta không nên ngộ nhận các đẳng cấp, các bậc thang, các quả vị chứng đắc là mức độ sáng đạo của mình hay của ai cả.

(3) Ngộ nhận thần thông và quyền năng: thần thông và quyền năng siêu nhiên cũng chỉ là phương tiện để giúp hành giả trên con đường phục vụ và tu tập. Ta hay ngộ nhận những người sử dụng phương tiện thần thông nầy là thành đạt tâm linh cao. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều đạo sư đạo cao đức trọng nhưng không thấy họ thi triển hay xác định có thần thông. Ngược lại, nhiều thầy pháp có khả năng hô phong hoán vũ, làm cát bay đá chạy, v.v. thì lại chẳng thành đạt mấy về mặt tâm linh.

(4) Nhu cầu phục vụ: Tu sáng suốt cần thấu hiểu mọi nhu cầu của bản thân mình. Một trong những nhu cầu lớn của phần đông người tu là nhu cầu phục vụ. Tiềm ẩn trong nhu cầu nầy là nhiều trói buộc. Nhu cầu của bạn từ đâu ra? Sự thôi thúc có từ bao giờ? Nếu không phục vụ, bạn có phiền não không? Bạn có bị sự thôi thúc nầy liên tục ám ảnh trong tâm trí hoặc đẩy bạn làm đến kiệt sức không? Khi phục vụ, bạn có thấy rằng mình đang ban phát không? Bạn có chê những người tu mà không theo con đường phục vụ như bạn là ích kỷ không? Và tại sao mình có nhu cầu chê người khác? Chúng ta cần chiêm nghiệm để có những câu trả lời thật chính xác về bản thân mình. Đây không có chuyện sai hay đúng. Ta cần nhận ra rằng các bậc Thánh, Bồ Tát không hề phục vụ vì họ có nhu cầu, mà là vì người khác cần thôi.

(5) Chấp kiến thức, hiểu biết kinh điển, kỹ thuật cao là tâm linh cao: khi gặp người có kiến thức cao, hiểu biết kinh điển rộng, thành tựu nhiều kỹ thuật trong các phương pháp tu tập, ta thường ngộ nhận những thứ nầy biểu hiện cho tâm linh cao. Càng khó hơn nữa là khi ta thấy chính bản thân mình là người đó. (Xưa, trong sách vở, cũng từng đã có những vị thầy có kiến thức và kỹ thuật cao, dạy cho hàng nghìn người chứng đạo nhưng bản thân họ thì chưa chứng đạo được.)

(6) Chấp tu tập tới thông thiên, đạt địa: Chúng ta cảm thấy không hài lòng với bất cứ đích điểm nào “lưng chừng”, nhất quyết ai cũng phài tu tập đến mức tuyệt đối, đạt chánh đẳng chánh giác, thông thiên, đạt địa. Còn cứu độ thì ta không muốn chỉ cứu một vài người mà phải cứu hết tam thiên đại thiên thế giới, v.v. Những điều nầy bản thân chúng không có hại, cho đến khi nào bạn cảm thấy phiền não vì chúng thì nên chiêm nghiệm lại. Có lẽ câu hỏi kế tiếp nên đặt ra ở đây là: “Sau khi đạt được mục tiêu tối thượng ấy, thì … rồi sao nữa?”

(7) Chấp thiêng liêng: Chúng ta tin tưởng các chư vị vô hình, phó thác và làm theo tất cả mọi hướng dẫn, mọi “thiên ý”. Chúng ta hoàn toàn dựa vào vô hình trên con đường tu tập. Như thế đôi khi chúng ta tạo thói quen ỷ lại. Có một điều rất quan trọng cần biết là không phải “đấng” nào cũng sáng suốt, giải thoát hay cao cả. Không phải cứ vô hình là “các đấng thiêng liêng cao cả” đâu. Cõi vô hình cũng có kẻ mê, người ngộ. Các hộ pháp cũng có người còn nóng nảy, hung dữ, hay còn bị thôi thúc bởi nhiều ham muốn cứu độ, cầu thiện, ghét ác, phân biệt cao thấp, chấp tướng, chấp pháp, v.v. hoặc đơn thuần là bạn bè tu cũ, nghiệp thức của chính mình trong các đời trước, v.v. Tu phải sáng suốt hiểu sự tự do của mình, phối hợp với vô hình mà không để bị sai sử lệch lạc.

(8) Chấp tự lực: Cũng có nhiều tông phái lại nhất quyết phải tự lực, không nương nhờ “thiêng liêng”, không dùng thần thông vay mượn, v.v. Thế đứng nầy rất dễ đưa cái “ta” của mình lên cao, thành tự tôn tự đại hoặc mất thêm nhiều thì giờ quý báu, è ạch trong việc tu tập. Cái nào “mượn” thì biết mình “mượn”, miễn ta không ngộ nhận nó là khả năng của mình thì không sao. Người thế gian thôi, mà nhiều lúc ta còn cần phải nương nhờ, huống gì là “thiêng liêng”.

(9) Chấp định, chấp huệ: Ta mải miết tu tập để đạt được cấp độ đại định vì có “định” rồi sẽ có “huệ”. Ta muốn đạt được trí huệ cao nhất. Ta muốn có cái biết xuyên thời gian, xuyên không gian và xuyên luôn cả tứ đại. Chẳng những thế, ta còn cả quyết rằng nếu không đạt được trong đời nầy thì ta sẽ đeo đuổi mãi nhiều đời kiếp nữa cho đến khi đạt được. Cái trói nầy từ đâu ra? Phải chăng ta chỉ “nghe nói” mà đã tự trói mình trong cái “muốn” như vậy? Việc gì đến sẽ đến theo tiến trình tự nhiên của nó và không tùy thuộc vào cái “muốn” nào cả. Hễ còn “muốn” là còn trói buộc, vì thế, sống hay chết mà còn “muốn” thì cũng đều là chưa giải thoát được vậy.
Lởi kết: Ý thức được rằng chính mình là người trói mình thì việc tháo gỡ không còn là điều khó nữa.
__________________
NATO
No Action, Talk Only

Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến NATO vì bài post hữu ích này:
Ba Đình (29-01-2008), ninhhuyentramvn (18-12-2007), tuanvu_quynh1949 (18-03-2009), VoDanh (30-04-2008)
Ai trói ai?
Old 02-11-2007, 7:52 pm  
NATO
No Action, Talk Only
 
NATO's Avatar
 

Smile Ai trói ai?
Ai trói ai?


Ái chà! Tumel và Hào Quang.com đang làm khó tại hạ đấy nhé! NATO nhận lời với Admin viết mấy bài cho diễn đàn rồi rút lui về … núi, giờ gặp những câu hỏi như của hai bạn, mới nghe thì tưởng dễ … nuốt, nhưng chắc chắn sẽ bị mắc nghẹn, khó có ngày … quay đầu về núi đây. Một lần nữa, xin các bạn bỏ qua những gì không hạp ý.

Cái gọi là “trói” của một pháp tu có hai mặt là vô hình và hữu hình. Mỗi mặt cũng có mấy “thể loại” khác nhau.

Hữu hình:

(1) Vị thầy thế gian cấm học trò học các pháp môn khác, nếu ai lỡ học trước rồi thì phải bỏ hết. Nếu vi phạm thì khai trừ ra khỏi pháp môn, có khi tước cả hết công lực hay còn trừng phạt bằng một cách nào đó. Đây là “trói” bằng luật. Trói nầy xuất phát từ phía người Thầy.

(2) Khi một vị Thầy quá hoàn hảo về mặt đức độ, hiểu biết, công hạnh, từ bi, thương yêu v.v., và không thấy hiển lộ một chút gì “thế gian”, học trò không thể nào thấy trên đời nầy còn có pháp nào, có gì khác để học thêm nữa. Học trò cũng không muốn làm sứt mẻ tình thương của Thầy mình. Có khi văn hóa còn định nghĩa sự đi học thêm ở nơi khác là “phản” thầy. Đây là “trói” bằng tình thương và sự tôn kính. Cái trói nầy xuất phát từ người học trò.

(3) Khi môn phái có hệ thống “chỉ huy”, nghĩa là trao một số quyền lực, danh lợi nào đó vào tay những hành giả kỳ cựu hoặc có tài năng, khiến người học trò không còn khả năng vượt thoát ra khỏi hệ thống đó để tiến hóa hay học hỏi gì thêm nữa. Đây là cái trói của hệ thống.

(4) Khi giáo lý, triết lý của một giáo pháp quá thâm sâu, quá vĩ đại, vượt luôn qua khỏi cái trí thông minh xuất chúng, cũng trói rất chặt vì hành giả sẽ bị “mắc kẹt” trong cái “thâm sâu” đó và cũng sẽ không bao giờ học được gì ở những tầng “thấp” hơn. Cũng tương tự, một pháp môn mà khả năng thần thông cao thâm (NĐ gọi là quyền năng, khả năng), cũng trói hành giả lẩn quẩn trong những phép thần thông đó suốt. Đây là cái trói khó tháo gỡ nhất.

Vô hình:

(1) Pháp tu nào cũng có những vị hộ pháp vô hình. Người tu cũng vậy, thường thì ai cũng có một hoặc nhiều hộ pháp. Hộ pháp thì về mặt tâm linh cũng có kẻ cao, người thấp. Nếu tâm linh họ cao thì họ không cố chấp, không câu nệ, luôn bao dung và giúp mình tu học, tiến hóa. Ở những vị nầy, không có sự trói buộc nào cả. Còn nơi những vị tâm linh còn kém thì họ còn “chấp pháp”, còn “cảm xúc”, còn quan điểm đúng sai, còn bị thôi thúc của tâm thức và nghiệp thức. Vì vậy, những “đấng” nầy thường phản đối những gì vượt ra ngoài pháp tu của họ. Họ không có thân nên phải nương nhờ vào thân của hành giả để tu tập, để lập công đức, v.v. Họ tác động lên tâm thức, lên cảm xúc của hành giả, họ thúc giục, lôi kéo hành giả phải ứng xử theo ý họ. Phần nhiều là làm việc “tốt”, giúp người, tu tập, chứ không phải làm gì xấu đâu. Nó vẫn là trói, và đây là cái trói của hộ pháp.

(2) Hầu hết hành giả trong Nhân Điện đều là những người đã từng tu nhiều đời kiếp nên ký ức, thói quen và năng lực cũ vẫn còn ảnh hưởng đến hiện đời. Thí dụ, trước kia là đạo Bà la môn hoặc tu theo Tiên gia, giờ sinh ra trong Thiên Chúa giáo hoặc tu theo Phật Giáo, lòng lúc nào cũng thấy sức thu hút, quyến rũ của những ý tưởng triết học của trường phái cũ. Nhiều khi hành giả cứ bị cản trở không cho phép thực thi những bài vở mới của hiện đời. Hoặc có khi trước đây hành giả đã nhiều đời theo học với vị Thầy mà giờ đây cũng là Thầy của hiện đời, nên tâm thức khó thoát ra khỏi những trói buộc cũ. Đây là cái trói bên vô hình, nhưng lại là của chính bản thân mình.

Đại khái là như vậy. Vậy giờ chúng ta nên xét thế nào về pháp môn Nhân Điện? Trước kia, tôi có cơ duyên sống gần Thầy Đáng, thường hay thảo luận nhiều đề tài với Thầy. Hầu hết những điều gì tôi học hỏi hoặc thử nghiệm với các pháp môn khác đều có trình riêng với Thầy. Thầy chưa hề bảo học trò phải bỏ hết các pháp môn khác. Ngay cả khi tôi giúp phát triển những pháp môn khác vì thấy cơ duyên phải làm và vì lợi ích cho người, Thầy cũng không hề phản đối. Thầy cũng không hề che đậy, màu mè về cái con người “thế gian” của Thầy. Buồn, vui, thương, giận gì Thầy cũng chia sẻ, sống rất tự nhiên, cái kiểu “tui vậy đó, chịu hổng chịu thì thôi”. Thậm chí, nhiều lúc chính học trò muốn trói ngược lại Thầy, họ áp lực Thầy đủ thứ và họ không chịu cho Thầy sống theo ý Thầy. Nhiều lúc Thầy phải đành nhượng bước. Thầy của chúng ta đấy, rất dễ thương và rất thật. Nên nếu chúng ta bị trói buộc thì hoàn toàn là do chúng ta, hoặc hữu hình, hoặc vô hình hay cả hai, chứ Thầy chưa hề thật sự muốn trói buộc ai. Chính vì cái “không trói” nầy của Thầy nói riêng, của pháp môn Nhân Điện nói chung mà hộ pháp của các trường phái khác đã không ngăn chặn việc học trò của họ đến học Nhân Điện. Giờ ta có thể giải thích tại sao có nhiều học trò Nhân Điện xuất thân từ những tông phái khác trên thế giới.

Lời kết: Nếu người sống, người trao pháp mà không trói thì hộ pháp của pháp môn chắc cũng không thể trói ai được vậy. Chúng ta cũng thế, khi tâm mình buông bỏ và cởi trói điều gì thì vô hình cũng phải buông và không còn trói ta được điều ấy nữa.
__________________
NATO
No Action, Talk Only

Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 5 người đã gửi lời cảm ơn đến NATO vì bài post hữu ích này:
8888 (24-06-2008), nhandien (16-07-2008), ninhhuyentramvn (19-12-2007), tuanvu_quynh1949 (18-03-2009), VoDanh (30-04-2008)
Old 26-11-2007, 10:30 pm  
admin
Administrator
 
admin's Avatar
 

Default
Nếu bạn muốn thảo luận hoặc xem phần thảo luận về đề tài này xin bấm vào đường dẫn sau:
http://www.ue-global.com/showthread.php?t=70
__________________
Success is getting what you want,
Happiness is wanting what you get.

thay đổi nội dung bởi: admin, 30-01-2008 lúc 9:29 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
ThÔng ĐiỆp TỪ MỘt BỘ LẠc KỲ BÍ GỞi Cho ThẾ GiỚi VĂn Minh HiỆn Nay dung9610 Tâm linh 15 02-09-2014 2:44 pm
Mình có cần được cởi trói không? NATO Tâm linh 8 07-04-2012 4:05 pm
Câu chuyện về một người Thầy. datamel Tâm linh 3 06-04-2012 12:05 am
LỚp TiỀm NĂng I-ii-iii, Houston, Texas, U.s thatsonphutu Tâm linh 0 29-02-2008 12:19 am
Cái nhìn bao quát về pháp môn Nhân Điện NATO Những bài viết chọn lọc 1 26-11-2007 10:48 pm

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles