UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Thiền

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Thiền và ngộ
Old 14-05-2010, 6:34 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default Thiền và ngộ
THIỀN VÀ NGỘ

Khởi nguyên của đạo Thiền, cũng như các tông phái Phật giáo khác, phải tìm trong sự Giác Ngộ Tối Cao- anậu đala tam miệu tam bồ đề - do Phật tự chứng ở cội bồ đề, gần thành Già Da. Nếu sự Ngộ ấy không có ý nghĩa và giá trị nào đối với sự khai triển sau này của Phật giáo thì hẳn Thiền không dính dấp gì đến Phật giáo, và đó chỉ là một thứ dị giáo do thiên tài của Bồ Đề Đạt Ma đặt ra khi ông sang Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ sáu. Nhưng nếu Ngộ là lý do tồn tại của Phật giáo, hay nói một cách khác, nếu Phật giáo là một tòa nhà toàn xây dựng trên căn bản của lý Giác Ngộ do Phật tự chứng, và đã hoàn tất con người của Phật, thì dĩ nhiên Thiền là cột trụ trung ương chống đỡ toàn thể cơ cấu; Thiền là trực hệ của truyền thống Phật giáo thừa tiếp giác tâm của Phật. Theo truyền thuyết, Thiền được Phật tâm truyền cho vị cao đệ tử là Ca Diếp khi Phật giơ lên một tràng hoa trước hội trường, một cử chỉ mà riêng chỉ có Ca Diếp nhận ra thâm ý, và đáp lại Thầy bằng một cái mỉm cười Tính cách lịch sử của câu chuyện trên đành rằng có thể đáng ngờ, tuy nhiên, nếu nhận chân được giá trị của Giác Ngộ ắt ta không thể qui hết uy thế của Thiền vào một giai thoại như trên. Thật vậy, Thiền phải đâu Phật chỉ trao riêng cho Ca Diếp, mà cho tất cả chúng sanh nào phát tâm nối gót Phật, Đấng Toàn Giác.

Là một người Ấn thuần túy, Phật dụng tâm khổ hạnh tham thiền là nhằm thoát ly sinh tử luân hồi. Có nhiều con đường mở ra cho Ngài đạt đến cứu cánh ấy. Cứ theo các triết sư đương thời thì người ta có thể vê tròn quả giải thoát bằng nhiều phương tiện như ôm ấp một lý đạo, hoặc tu khổ hạnh, hay giữ trinh bạch, hoặc học đạo, hoặc diệt dục. Mỗi phương tiện có chỗ sở trường riêng, và nếu khéo nghiêm trì từng cái hoặc toàn thể thì đạo giải thoát có thể thành được phần nào. Nhưng các triết sư ấy toàn luận về phương pháp mà không bao giờ có được một báo cáo nào đáng tin về những điều thực chứng của họ, trong khi tâm nguyện của Phật là thể nghiệm, là tự chứng, là tia đạo nhãn phóng vào thực tại, thay vì bàn suông về phương pháp hoặc đùa với khái niệm Ngài ghét mọi trò triết lý ấy mà Ngài gọi là kiến chấp hoặc ngôn thuyết, vì chúng không đưa Ngài đến đâu hết, mà cũng không đem đến kết quả thực tiễn nào cho sinh hoạt tâm linh. Ngài không bao giờ thỏa mãn cho đến khi Ngài chứng quả Bồ Đề, nghĩa là ngộ nhập trong chân lý hiển hiện tức thì trong ý thức siêu việt của Ngài, một chân lý mà bản chất tuyệt đối, thâm u và hiển nhiên quá đổi đến Ngài không còn ngờ vực gì được giá trị đại đồng của nó.

Nội dung của sự Giác Ngộ ấy, Phật giảng là Pháp -Dharma - cần phải trực nhận (sanditthika), ngoài tất cả giới hạn của thời gian (akalika), tự mình thể nghiệm lấy (ehipassika), rất hiển nhiên (opanayika), và trí giả phải tự chứng tự ngộ lấy cho chính mình (paccattam veditabbo vinnuhi). Nói thế có nghĩa là Pháp phải nhận bằng trực giác, không thể đạt đến bằng biện luận. Phật thường không đáp những câu hỏi siêu hình của các đệ tử phần lớn vì lý do ấy. Phật cả quyết rằng chân lý tối thượng phải được hiện thực ở ta, và bằng tất cả khí lực bình sinh vì tất cả những gì hiểu được bằng biện giải là hiểu mặt ngoài, không phải là tự thể của sự vật, nên lý trí suy luận không bao giờ thỏa mãn được những khát vọng đạo giáo của ta. Bồ Đề không thể cầu được bằng vào những kiến thức uyên bác kinh niên. Đó là chỗ lập cước của Thiền đối với cái gọi là Chân lý cứu cánh. Ở phương diện ấy, Thiền soi truyền đúng chánh pháp của Thầy vậy.

Phật có một cái nhìn chiếu diệu vào bổn thể của sự vật cao tuyệt hơn bất cứ kết quả nào có thể thâu lượm được bằng lý luận luận giải, điều hiển nhiên ấy dễ nhận ra khắp, cả đến trong thứ văn học gọi là Tiểu Thừa. Chúng tôi chỉ xin đơn cử một ví dụ rút trong Kinh Phạm Võng, trong ấy Phật đối phó với các trường triết học đương thời gọi là “lục sư ngoại đạo”; sau khi đánh đổ họ xong, nhất luật Ngài hướng họ đến trí giác Như Lai, khác xa những lời ngụy biện của họ “trườn uốn như con lươn”. Tất cả những gì họ tranh biện toàn nhằm thỏa mãn tánh hiếu luận, và phô trương tài biện thuyết tinh luyện của họ về những đề tài như linh hồn, đời sống mai sau, vĩnh cửu, và những vấn đề huyền học quan trọng khác, hoàn toàn không giúp ích gì cho sự an tâm lập mệnh. Phật biết hơn ai hết những lý luận ấy chung cùng sẽ đưa họ đến đâu, và xét cùng ra đều là hư ngôn, toàn gây tệ hại. Như ta thử đọc đoạn văn sau đây trong kinh Phạm Võng:

“Này các tì khưu, Như Lai biết những kiến giải như vậy, những chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cảnh giới như vậy, sẽ tạo thành những duyên nghiệp như vậy. Đó là điều Như Lai biết, và còn biết nhiều hơn thế nữa, nhưng Như Lai không chấp. Vì Như Lai không chấp vào cái biết ấy nên tâm được tịch tịnh. Như Lai biết, “như thực”, tướng sanh diệt của cảm giác (thọ), hương vị và độc vị của chúng; nhân cái biết ấy. Như Lai được giải thoát hoàn toàn, sạch hết tập khí cảm nhiễm”. (đoạn 36)

Lý tưởng La Hán hẳn nhiên là nhập Niết Bàn không lưu gì lại hết sau lưng Dầu muốn hiểu thế nào, câu ấy vẫn bao hàm luôn cái nghĩa Giác Ngộ; không, nó không thể khác hơn thế được, kẻo phải phương hại đến lý do tồn tại của nó. Vì tựu trung Niết Bàn chẳng gì khác hơn là Giác Ngộ; nội dung của Niết Bàn tức nội dung của Giác Ngộ. Giác Ngộ là Niết Bàn đạt đến ngay trong cát bụi, và không Giác Ngộ không bao giờ có chứng Niết Bàn. Giác Ngộ có thể có một sắc thái trí thức hơn Niết Bàn là một trạng thái tâm lý đạt đến bằng con đường Giác Ngộ. Trong cái gọi là Phật giáo nguyên thỉ, người ta nói đến Bồ Đề bao nhiêu thì nói đến Niết Bàn bấy nhiêu. Hễ phiền não chưa chế ngự, tâm còn quấn chặt trong vô minh, thì đừng hoài công cầu giải thoát, tức chứng Niết Bàn, vì phá vô minh, lìa phiền não, đó là công của Giác Ngộ. Thường, Niết Bàn được hiểu dưới khía cạnh tiêu cực là sự tận diệt, cả xác và hồn, nhưng trong thực tế, không một khái niệm tiêu cực nào như vậy có thể chấp nhận được. Vả, Phật cũng không bao giờ ngụ ý Niết Bàn nên hiểu như vậy. Nếu Niết Bàn không có yếu tố khẳng định nào hết, ắt người Đại Thừa không bao giờ rút đâu ra được một lập trường thực tiễn sau này. Dầu rằng hàng đệ tử trực tiếp của Phật không để tâm đến điều ấy, nhưng tư tưởng Niết Bàn vẫn mãi mãi gắn liền vào tư tưởng Giác Ngộ. Phật thành đạo sau một tuần thiền định ở cội Bồ Đề, sự kiện ấy không thể không có tác động nào vào hàng đệ tử La Hán của Phật, dầu dưới khuynh hướng tiêu cực nào họ áp dụng nguyên lý ấy vào sự thành tựu cứu cánh của cuộc sống.

Ý nghĩa xác thực của Giác Ngộ được các người Đại Thừa triệt để xương minh, không những ở phần luận giải trí thức, mà còn hiện thực luôn ở thái độ đạo đức và tôn giáo nữa. Hậu quả là quan niệm Bồ Tát được dựng lên đương đầu với La Hán, lý tưởng của trường phái đối lập. Kể ra thì La Hán và Bồ Tát chỉ là một. Nhưng, thâm nhập trong ý chí Giác Ngộ coi như yếu tố quyết định cứu cánh tối thượng của Phật giáo đặt ở sự giải thoát tâm linh theo các kinh bộ, người Đại Thừa không những trên cầu giải thoát cho mình, mà dưới còn nguyện hóa độ chúng sanh, hữu tình cũng như vô tình, để tất cả được bình đẳng giải thoát như nhau. Đó không phải chỉ là những ngưỡng vọng chủ quan, mà còn có một căn bản khách quan làm chỗ y cứ để chứng minh và thành tựu. Đó là sự hiện hữu trong mỗi cá nhân một trí năng mà người Đại Thừa gọi là Bát Nhã Đó là nguyên lý chủ động, nhờ đó mới hiện thực sự Giác Ngộ ở mỗi người chúng ta, cũng như ở đức Phật. Không Bát Nhã, không có Giác Ngộ, không có cái huyền lực tối cao ấy mà ta có quyền thụ hưởng. Lý trí, hoặc gọi theo các nhà học Phật là thức - vijnana - bởi bị hạn chế trong hoạt động, không thể đạt đến cái thực tối hậu ấy, tức là Giác. Nhưng chỉ nhờ cái thực tối hậu ấy ta mới vượt lên cảnh giới mâu thuẫn của tâm và vật, của mê và ngộ, của giải thoát và triền phược. Giác, tức tự chứng vậy, chứng cái thực tại tối thượng và tuyệt đối, và hiện hữu như một khẳng định. Nên hiện chúng ta đều là Bồ Tát đều là Bồ đề chúng sanh- Bodhi sattvas - nếu không ở hiện thực thì cũng ở tiềm năng. Bồ Đề chúng sanh cũng là Bát Nhã chúng sanh - Prajna Sattvas - vì chúng ta vốn sẵn đủ như nhau cái trí năng Bát Nhã ấy, nếu được khai thác sâu và thực sẽ hình thành ở ta cứu cánh. Giác Ngộ; và trên mặt trí thức, theo nghĩa tuyệt đối, sẽ nâng ta lên trên cảnh giới ảo tưởng để chứng vào trạng thái mà kinh bộ A Hàm gọi là panna vimutti hoặc sammad anna vimutti: huệ thiện hoặc định thiện giải thoát.

Nếu vì công lực của Giác Ngộ mà sa môn Cồ Đàm được chuyển hóa thành Phật, vậy, nếu tất cả chúng sanh đều sẵn đủ tri giác Bát Nhã, và đủ khả năng Giác Ngộ - nói một cách khác, nếu tất cả đều là Bồ Tát - vậy lý đương nhiên tất cả Bồ Tát đều là Phật, hoặc sẵn sàng để thành Phật khi gặp thời tiết. Do đó, Đại Thừa giáo xác định rằng tất cả chúng sanh, hữu tình hoặc vô tình, đều có Phật tánh, rằng tâm ta là Phật tâm, thân ta là Phật thân. Phật, trước khi thành đạo, là một phàm phu thường, và chúng ta, những phàm phu thường, sẽ là Phật, khi con mắt tâm linh mở ra trong ánh Giác Đó, ta há chẳng thấy thật quá đương nhiên, quá hợp lý, tin tưởng ấy nhất định đưa đến những giáo lý chủ yếu của Thiền Tông như đã được xiển dương sau này ở Trung Hoa và Nhật Bổn?

Khái niệm Giác Ngộ tác động mãnh liệt như thế nào trong dòng diễn tiến của Đại Thừa, cả chiều rộng và chiều sâu, điều ấy dễ nhận thấy trong nội dung của bộ Kinh Pháp Hoa, chánh thức được coi là một kháng thư thâm áo nhất của Đại Thừa giáo đối với quan niệm Giác Ngộ của Tiểu Thừa. Theo Tiểu Thừa, Phật thành đạo ở rừng Già Da trong khi Ngài ngồi kiết già nơi cội Bồ Đề, nhưng họ coi Phật như một chúng sanh như họ, bị gắn liền vào những điều kiện lịch sử và tâm lý. Nhưng người Đại Thừa không thể thỏa mãn được với những kiến giải quá thực thà và thông tục ấy về nhân cách của Phật; họ cảm thấy có cái gì vi diệu hơn thâm nhập trong tâm họ, và họ khao khát được ngộ nhập ngay trong cái ấy. Họ tìm, và rốt cùng họ gặp, và họ nhận ra rằng coi Phật như một sanh linh thường là lầm, rằng Như Lai đã chứng quả Chánh Đẳng Chánh Giác “từ vô lượng a tăng kì kiếp”, rằng những sử kiện của đời Ngài chép giữ trong văn học A Hàm hoặc Nikaya toàn là phương tiện khéo và lành (upaya kaushalya). Ngài tạm mượn để dắt dẫn chúng sanh hướng thượng trên con đường Phật Nói một cách khác, Giác Ngộ là tuyệt lý của vũ trụ, là yếu lý của Phật tánh; vậy, Chứng Đạo tức tự chứng ở trong ta cái thực tại tối thượng ấy của vũ trụ hằng thường bất diệt.

Nếu kinh Pháp Hoa đề cao khía cạnh Phật của Giác Ngộ thì Thiền, khác hơn, hướng hết tinh thần vào khía cạnh Giác Ngộ của Phật tánh. Một khi vận dụng trí thức quan sát khía cạnh Giác Ngộ này, ta có đủ thức triết giáo chánh thống, như trường phái Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Pháp Tướng v.v... Thiền đi thẳng vào đó từ miếng đất cụ thể của cuộc sống, nghĩa là nhằm hiện thực sự Giác Ngộ ngay trong cuộc sống. Vì lẽ ý niệm Giác Ngộ là yếu tố chủ lực hun đúc khí thế hưng long của Đại Thừa giáo, vậy nội dung của Giác Ngộ là gì? Ta có thể mô tả nó bằng cách nào dễ hiểu để trí thức hiếu biện của ta có thể nắm lấy và đặt thành đề tài suy tư không? Bốn Diệu Đế không phải là nội dung của Giác Ngộ, cả đến Mười Hai Nhân Duyên, cả đến Tám Chánh Đạo. Chân lý nhoáng lên trong tâm Phật không phải như một tư tưởng có thể luận giải bằng lý trí. Khi vừa ngộ đạo, Phật reo lên thế này hẳn đủ chứng tỏ Ngài phải đạt đến một cái gì thâm áo gấp bội hơn là thứ biện chứng thường tục:

Trong vòng sống chết vô tận

Ta chạy mãi không nghỉ ngơi

Từ bào thai này sang bào thai khác

Đuổi theo người chủ ngôi nhà.



Chủ nhà, ta phát giác mi rồi!

Mi không cất nhà lại được!

Kèo cột gãy hết rồi,

Mái sườn sụp đổ hết

Tâm lìa hết tạo tác,

Tất cả diệt trừ xong.

Đó phải là cái gì tuyệt hậu, tối cực, một khi nắm được là lắng đứng tất cả nỗi ngờ, không phải chỉ ở tri thức mà đến cả những tư lự siêu hình. Thật vậy, bốn mươi chín năm Phật tích cực du hóa sau ngày thành đạo đều nhằm luận giải sự Giác Ngộ ấy mà rồi vẫn chưa nói được tiếng nói cuối cùng; rồi đến những trầm tư sau này của Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân và Vô Trước, tất cả vẫn không biện minh được hết lời cạn ý. Nên Phật có lời tâm sự:

“Ta từ đêm ấy được Vô Thượng Chánh Giác, đến đêm ấy vào Niết Bàn, suốt thời gian ấy chẳng nói một chữ”. (Lăng già, phẩm VII)

Thậm chí học nhiều nhớ kỹ như A Nan vẫn không lượng được chiều sâu trí huệ Phật khi Phật còn tại thế. Theo truyền thuyết, A Nan mới chứng quả La Hán trong kỳ Kết Tập Đầu Tiên, trong hội này A Nan mới đầu không được phép tham dự mặc dầu có tiếng “đa văn”, ông từng theo hầu Phật suốt hăm lăm năm. A Nan sầu não bỏ đi đến một khu vườn vắng, rão bước suốt đêm cho đến lúc cùng sức ông toan ngã mình nằm thoạt nhiên phiền hoặc tiêu tan trong chớp nhoáng, ông chứng vào thực tại của Phật giáo, điều mà bao năm qua đã thoát khỏi ông, mặc dầu ông học nhiều hiểu rộng.

Thế nghĩa là gì? Chắc vậy, chứng La Hán không phải là vấn đề chuyên học, mà đó là một cái gì hốt nhiên xảy đến, trong chớp mắt, sau bao năm tinh chuyên tu tập. Thời gian chuẩn bị có thể kéo dài nhiều năm dài dẳng, nhưng đến một lúc nào đó thì chớp nhoáng cơn khủng hoảng vỡ bùng và người ta thành La Hán, hoặc thành Bồ Tát, hoặc thành Phật luôn nữa. Có thể lắm, nội dung của Giác Ngộ giản dị vô cùng ở bổn thể, nhưng sức chấn động thì thực là kinh khủng. Tôi muốn nói, về trí giải, nó phải vượt qua tất cả thế kẹt thuộc phạm vi nhận thức và ngôn ngữ văn tự; về tâm giải, nói phải là sự tái thiết toàn thể phẩm cách con người. Một sự kiện cốt tử như vậy đương nhiên thoát ngoài mọi thể cách mô tả, mà chỉ có thể nắm lấy bằng một hành vi của trực giác, và xuyên qua một sự tự chứng cá nhân. Ấy, Pháp - Dharma - đích là thực vậy, trong ý nghĩa tuyệt luân nhất. Nếu nhân “một niệm dấy lên”, Vô Minh đi vào đời ta, thì sự thức tỉnh của một niệm (hoặc tư tưởng) khác phải chấm một dấu hết cho Vô Minh, và quyết định cơ Giác Ngộ Và trong trạng thái ấy không còn một tư tưởng nào là đối tượng của bất cứ ý thức luận lý hoặc suy luận kinh nghiệm nào; vì trong Giác Ngộ, người nghĩ và sự nghĩ và ý nghĩ đều hòa tan trong một hành vi duy nhất là kiến chiếu trong thực thể của Chính Mình . Không còn một giải thích nào thêm về Pháp được, do đó phải viện đến thứ ngôn ngữ nghịch lý, thuần vô - via negativa. Và đó là thế giới tuyệt đích của triết lý KHÔNG của Long Thọ, xây dựng trên giáo lý Bát Nhã Ba La Mật của văn học Phật giáo.

Vậy, Ngộ không phải là chỗ đến của một diễn trình trí thức, trong ấy một ý nghĩa theo liền một ý nghĩ trong một trật tự hợp lý để cuối cùng đưa đến một kết luận hay một quyết đoán. Không hề có diễn trình nào, mà cũng không có quyết đoán nào trong Giác Ngộ. Đó là một cái gì tinh yếu hơn, có nó mới có quyết đoán, thiếu nó thì không hình thức quyết đoán nào có lý do tồn tại. Trong quyết đoán có người quyết và có sự tuyên quyết; trong Giác Ngộ, người quyết tức là sự quyết; sự quyết tức là người quyết; cả hai hòa tan làm một, không phải như cái một còn có chuyện để nói năng, mà chính là cái một tại duyên cho quyết đoán. Ta không thể đi ra ngoài cái tuyệt đối một ấy; mọi động tác của trí thức đều ngừng tại đó; nếu chúng muốn đi xa hơn ắt chỉ vạch ra một vòng tròn lẩn quẩn rồi giữa ấy cứ trở đi lộn lại mãi, vô cùng tận. Đó là bức tường cấm, tất cả triết học đừng hoài công húc đầu vào. Đối với tri thức, đó là một terra incognita mà nguyên lý tối thắng là “Cre-do quia absurdum est” .Vùng bóng tối ấy, tuy vậy, sẽ trao cho ta tất cả bí mật một khi ta đập vào đó với tất cả ý chí và khí lực bình sanh. Giác Ngộ, tức chiếu sáng vùng bóng tối ấy; và đó là lúc toàn thể sự vật được ôm choàng trong một nhỡn quang, mọi thắc mắc của trí thức có được một lời đáp thỏa đáng. Bấy lâu nay, người ta có thể tin quyết vào sự thực của một câu nói nào đó, nhưng cái thực ấy chưa đi vào cuộc sống, chưa có được một sự xác nhận tối hậu, nên họ không sao tránh được một cảm giác hoang mang, lo ngại. Rồi nay bỗng dưng cái Ngộ chụp lấy họ, một cách hoàn toàn bí mật, không ngờ trước, ấy thế là tất cả được giải quyết một lần; họ thành La Hán, hoặc Phật nữa. Được điểm nhãn rồi, rồng nay không còn là rồng vẽ trên giấy nữa, thiếu sinh khí; giờ đây gió và mưa chầu về nó làm những tên hầu hạ trung thành.

Thật quá hiển nhiên Giác Ngộ không phải là cái biết bằng lý luận sắc bén, hoặc bằng phân tách rạch ròi; hơn là một trí năng nhận biết cái “lý dĩ nhiên”, nó có cái gì trong ấy thâu nhiếp toàn thể ý thức bằng một ánh sáng chiếu diệu. Ánh sáng ấy không phải chỉ phóng ra trên toàn bộ mắc xích khép mối nhằm giải quyết những đại sự của nhân sinh, mà đích thực còn chiếu phá vào khối ưu tư từng ray rức tâm hồn người trong kiếp sống. Những mắc xích lý luận, dầu giỏi móc nối và được rèn luyện đến tuyệt kỹ, vẫn không sao trấn an được thâm tâm con người. Nên chúng ta phải đòi hỏi đến một cái gì thiết cốt hơn, hoặc tức thì hơn; và tôi tin chắc rằng chỉ bằng vào Bốn Diệu Đế hoặc Mười Hai Nhân Duyên quyết không tựu được quả Vô Thượng Bồ Đề. Đức Phật hẳn phải chứng qua một cái gì khác hơn, phóng thẳng vào tận đáy nội tâm của Ngài, hơn là cái biết hời hợt bằng kinh nghiệm xuyên qua trí thức. Ngài hẳn bỏ xa lắm cảnh giới luận lý phân tách. Ngài hẳn có giao tiếp với cái gì đem đến cho những động tác trí thức của ta một ý nghĩa; với cái gì, trên thực tế, chế ngự hẳn cuộc sống có ý thức của chúng ta.

Khi gặp A Thuyết Thị ,Xá Lợi Phất thấy vị tì khưu nầy uy nghi đáng kính, cử chỉ điều hợp nhẹ nhàng, làn da trong sáng làm sao! Xá Lợi Phất dọ hỏi thầy ông ta là ai, và ông ấy dạy gì. A Thuyết Thị đáp: Thầy tôi là Thích Ca Mâu Ni Phật, Thế Tôn, và lời dạy của Người đại khái như vầy:

Như Lai giải thích nguyên nhân của vạn hữu

Vạn hữu phát sanh từ một nguyên nhân

Ngài cũng giải thích sự diệt trừ chúng

Đó là lời dạy của vị Đại Sa Môn ,

Kinh điển chép rằng vừa nghe bài kệ thì trong tâm Xá Lợi Phất bừng lên một cái biết sáng chói về chân lý “có sanh thì có diệt”. Xá Lợi Phất chứng ngay vào trạng thái không sanh diệt, không phiền não, điều mà từ vô lượng kiếp ông không nghĩ đến bao giờ.

Điều tôi muốn chúng ta lưu ý ở đây là điểm này: thử hỏi, trên mặt trí thức, có cái gì đặc biệt, ly kỳ, độc đáo trong bài kệ ấy không khiến Xá Lợi Phất phải thức tỉnh một cách mầu nhiệm như vậy trong thế giới tư tưởng yêu dấu của ông? Xét về giáo pháp, bốn câu ấy có gì đáng gọi là Pháp đâu! Người ta nói rằng bài kệ ấy là cốt tủy của Pháp; nếu vậy thì Pháp hóa ra rỗng tuếch đi mất, vậy Xá Lợi Phất tìm đâu ra cái chân lý vừa cụ thể vừa hữu hiệu ấy đủ thần lực chuyển ngược ông khỏi vết cũ ngàn đời? Bài kệ, dầu được truyền tụng nhiều vì đã mở mắt không riêng gì Xá Lợi Phất mà cả Mục Kiền Liên nữa, thật ra không có gì đáng gọi là tiêu biểu cho tư tưởng Phật giáo đủ uy lực tạo nên một đại dụng như vậy. Bởi vậy, lý do ấy ta nên tìm ở chỗ khác hơn; nghĩa là không phải tìm ở chân lý hình thức chứa đựng trong bài kệ, mà tìm ngay trong trạng thái chủ quan của người tai nghe kệ và tâm mở ra trên một thế giới khác. Đó là tâm của Xá Lợi Phất mở sáng ra một sự lãnh hội chiếu diệu về Pháp. Nói một cách khác, Pháp hiện đến cho ông ta như một cái gì tiềm phục trong chính ông, không phải như một cái thực bên ngoài trút vào. Hoặc nói khác hơn, Pháp hiện là đó, trong tâm Xá Lợi Phất, từ vô thỉ đến vô chung, nhưng ông lơ đãng không nhận ra cho đến khi lời kệ A Thuyết Thị lọt vào tai. Ông không thể chỉ là một cái thùng chứa vô tích sự cho để cho bất cứ gì không hàm dưỡng trong ông đều trút vào được hết. Bài kệ nghe được tạo cơ duyên cho ông chứng nghiệm giây phút tuyệt cùng. Nếu cái hiểu của Xá Lợi Phất chỉ thuần là tri thức và luận giải ắt cuộc đối thoại giữa ông và A Nan sau này không được như lời Tương Ưng Bộ Kinh (III 235 F) thuật lại như vầy:

A Nan thấy Xá Lợi Phất từ xa đi lại bèn hỏi: “Đại Đức Xá Lợi Phất! Ngài hôm nay thần sắc thanh tịnh, rỡ ràng làm sao, do đâu mà được vậy?”

- Một mình trong tam muội, không bao giờ tư tưởng này dấy lên trong tôi: Tôi chứng! Tôi thành! Tôi thoát!

Ở đây, ta ghi nhận sự phân biệt giữa hai lối hiểu biết, bằng tri thức và bằng tâm linh, tức bằng Chứng Ngộ. Khi Xá Lợi Phất cho biết vì nguyên do nào thần sắc ông thanh tịnh và rạng rỡ, phải đâu ông luận giải bằng luận lý, mà thật ra ông chỉ trình bày sự việc theo như ông chủ quan nhận xét. Nhận xét ấy có chỉnh hay không, xin để các nhà tâm lý học phán quyết. Điều tôi muốn chỉ rõ ở đây là sự lãnh hội lý “nhân duyên sanh diệt” của Xá Lợi Phất không phải là kết quả của một cuộc phân tách tri thức, mà chính là một sự hiểu biết tự nhiên bằng trực giác dòng vận hành sinh động bên trong. Giữa sự Thành Đạo của đức Phật xương minh trong bản Thánh Ca Tối Thắng, và sự thâm ngộ lý nhân quả của Xá Lợi Phất, có mật thiết liên hệ nhau ở chỗ vận tâm. Ở Phật, Giác trước rồi phô diễn sau; ở Xá Lợi Phất, một định cứ được nêu lên trước rồi nội chứng đến sau, theo một diễn trình đảo ngược vậy; tuy nhiên, ở hai trường hợp, giữa tiền đề và kết đề vẫn thiếu cân xứng. Cái này không giải thích đủ cái kia nếu sự hiểu biết chỉ bằng vào tri thức và luận lý. Sự giải thích không phải tìm ở chân lý khách quan chứa trong lý nhân quả, mà chính trong trạng thái tâm linh con người chứng ngộ. Bằng không, làm sao mình giải được lòng tin kiên quyết ấy ở sự tự chứng tự độ như lời Phật đáp cho một tín đồ ngoại đạo như sau:

Ta đã gội sạch hết ô trược (asava). Ta đã giải thoát tâm (ceto vimutti) và trí (panna vimutti); tại đây, trong thế giới hữu tình, ta đã tự mình tỏ rõ, đến đích, và làm chủ chánh pháp; ta đã ngộ nhập trong pháp, đã giải hết ngờ vực, đã gạt bỏ hết điên đảo, đã trọn đầy tín lực, ta ứng dụng vào thế gian, đã làm những gì phải làm, đã chặt đứt mối giây trói buộc vào vòng tái sinh; ta đã ngộ pháp như thực vậy.

Thế nên Kinh Lăng Già khẩn thiết bảo ta rằng ngôn ngữ là một phương tiện hoàn toàn thiếu thích đáng để diễn đạt và truyền đạt nội thể của Giác Ngộ. Đành rằng thiếu tiếng nói có thể lắm ta sẽ bị tệ lậu hơn, ít ra trong cuộc sống hằng ngày; nhưng ta cũng nên triệt để đề phòng đừng quá tin vào ngôn ngữ ngoài phần vụ chánh đáng của nó. Lý do, theo kinh, là vì ngôn ngữ là sản phẩm của nhân duyên, bản chất luôn biến đổi, không bền, bị chi phối lẫn nhau, và xây dựng trên một nhận định hư giả về thực chất của ý thức. Vì lý do ấy, ngôn ngữ không hiển thị được chân tướng của sự vật - đệ nhất nghĩa đế Ở đây. tưởng không gì thích hợp hơn là dùng lời ví “ngón tay và mặt trăng” để minh thị cái thế tương quan giữa ngôn ngữ và ý nghĩa, giữa biểu tượng và thực tại .

Nếu cảnh giới tự chứng của Phật chứa đựng những gì thâm áo quá đến Phật vẫn không thể bằng ngọn lưỡi biện tài mô tả và minh hoạ đủ hết được suốt khoảng đời dài và thanh tịnh Ngài hiến trọn cho thiền định và hoằng hóa, vậy làm sao những người hạ liệt hơn Ngài mong nắm được, và cầu giải thoát tâm linh? Bởi vậy, đây là thái độ của Thiền: muốn thấu triệt chân lý Giác Ngộ, ta phải vận dụng một khả năng nội tại khác hơn là trí thức, nếu ta còn may mắn có được khả năng ấy.

Mọi lời dẫn giảng đều hỏng đích, mà khát vọng của ta đến cái không nắm bắt được lại không bao giờ nguôi ngoai. Vây ra ta đành sống và chết trong bứt rứt suốt đời sao? Nếu vậy, thân phận chúng ta thật khốn đốn không gì hơn trên trái đất này. Người Phật giáo vận hết khí lực bình sanh giải quyết vấn đề ấy, và rốt cùng họ nhận ra rằng dầu sau chúng ta vẫn có đủ trong ta tất cả những gì chúng ta cần. Đó chính là uy lực của trực giác sở hữu của tâm, có khả năng phóng chiếu vào thực tại của tâm linh để phơi trần trước mắt ta tất cả then máy huyền vi của cuộc sống mường tượng phần nào với nội dung của quả vị Giác Ngộ của Phật. Đây không phải là một tràng luận chứng thường của tri thức, mà chính là một năng lực phóng ngay, trong chớp nhoáng, và bằng con đường thẳng nhất, vào chỗ tinh yếu nhất Người Phật giáo gọi năng lực ấy bằng thuật ngữ Bát Nhã như ta đã biết. Và Thiền Tông, vì lẽ trực thuộc với lý Giác Ngộ, có mục đích thân thiết đánh thức dậy ở ta ánh Bát Nhã ấy bằng phép thiền định.

Kinh Pháp Hoa nói:

“Này Xá Lợi Phất, diệu pháp ấy, chư Phật Như Lai đúng thời mới nói, như hoa linh thoại đúng tiết mới trổ...Pháp ấy không thể lấy óc suy lường, phân biệt mà hiểu được. Chỉ có Phật, Thế Tôn, mới biết được. Tại sao vậy? Chư Phật, Thế Tôn chỉ vì một nguyên cớ (đại sự nhân duyên) mà xuất hiện trong đời...Chư Phật, Thế Tôn muốn khiến cho chúng sanh mở cái tri kiến của Phật (khai), chỉ cho thấy cái tri kiến của Phật (thị), nhận rõ cái tri kiến của Phật (ngộ), đi vào cái tri kiến của Phật (nhập)...Ai hành theo pháp ấy của Phật đều chứng vào trí huệ tối thượng của Phật (nhất thiết chủng trí).

Phẩm 2: Phương tiện, dịch tắt.

Nếu “đại sự nhân duyên” của việc Phật xuất thế là vậy, làm sao ta ngộ nhập, và thành tựu thành trí ấy? Nếu Đạo Giác Ngộ đứng ngoài tất cả giới hạn của tri năng, thì không một triết luận nào giúp ta tựu đích được. Vậy làm sao học được ở Như Lai? Hẳn nhiên không học được từ miệng Ngài, từ các bộ kinh, mà cũng không thể từ nếp sống hành xác, mà chính từ thể lương tri thâm diệu bên trong của chính ta bằng vào phép thiền định. Và đó là chủ trương của đạo Thiền.

Trích Thiền Luận
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (19-05-2010), cheznous (14-02-2011), nichiko_27590 (16-02-2011), tuaangs (16-05-2010)
Old 15-05-2010, 1:20 pm  
Luciola
Senior Member
 
Luciola's Avatar
 

Default
Thiền luận:
Sự tỉnh thức của BẢN NGÃ

Sống trong trạng thái thiền là gì? Nó có khó lắm không? Nó có hoang đường không? Nó có thật sự đem lại kết quả cụ thể gì không, nếu có thì trong bao lâu? Nó có liên quan gì đến tôn giáo và niềm tin tín ngưỡng không? Ai là người thực hành được và ai là những người không thực hành được?

Bạn thấy biết rất rõ những thềm muốn của bạn và biết rõ nó xuất phát từ chỗ nào. Bạn thấy biết rất rõ các cảm xúc của bạn khi đang xảy ra như giận hờn, ganh ghét, yêu thương, quyến luyến, luyến ái, buồn vui. Biết nguồn gốc của chúng. Thấy biết thật rõ nguồn gốc của chúng là từ những kinh nghiệm tuôn chảy ra khi đụng chạm với với hoàn cảnh đang xảy ra. Bạn thấy biết thật rõ những gì là mình không thể hiểu hay giải thích được. Biết rõ những gì mình có thể biết và cũng biết rõ những gì mình không thể biết. Như vậy bạn đã sống được với trạng thái thiền.

Điều nầy bạn cảm thấy quá dễ nên cũng chưa chắc bạn tin đâu vì các bạn đã có thói quen thích những chuyện có vẽ hình thức trang nghiêm hay lạ đời, có vẽ lập dị kỳ quặc nơi am cốc ! Bạn chưa có thói quen tin vào “linh hồn sống” của bạn là có sức mạnh kỳ diệu. Bạn cũng có thói quen nô lệ cho kiến thức sách vở ngàn xưa!


Tôi mời bạn chú ý thêm đến những nội dung sau đây:

1. Bạn phải thực sự hiểu rõ nguồn gốc của các suy nghĩ của bạn, hiểu rõ nguồn gốc cách nhìn của bạn, nguồn gốc của các cảm giác, của những sự lắng nghe.Tất cả chúng bắt đầu từ kinh nghiệm sống của bạn từ lúc năm tháng tuổi đến tận bây giờ. Bạn hình dung một em bé dưới hai tháng tuổi mà xem: nó nhìn thấy một nhà sư, một cha cố, cha, mẹ nó hay một người giả làm quỹ sứ cũng đều như nhau. Nó không có khái niệm về tên, hình thức, màu sắc…nên nó không có cảm giác sợ hải, vui buồn nên nó chẵng cần có cách thích ứng nào theo kinh nghiệm của người lớn cả. Nó có cái nhìn, nghe, từ nơi không có một chút kinh nghiệm nào. Nhưng người lớn thì ngược lại: gặp nhà sư họ chào khác, cha cố họ chào khác, và quỹ giữ họ ứng xử sợ hãi. Đứa bé còn chưa có kinh nghiệm gì nên nó không suy nghĩ được. Khi hiểu như vậy bạn sẽ biết rõ mình trãi qua những kinh nghiệm gì trong đời nầy. Biết chuyện nầy sẽ nhận ra ngay thế giới tâm chứa kinh nghiệm mà nó là nguồn gốc của mọi suy nghĩ, ý tưởng. Từ chỗ này bạn sẽ bật ra nhiều trí tuệ vô lậu và đưa bạn vào niềm hạnh phúc vô biên chưa từng có.

2. Bạn tạm đặt giả thiết là có một năng lực có khả năng thấy và hiểu biết tinh khiết đang hiện hữu nơi bạn nhưng bạn không hiểu nó, không thấy nó, không biết nó ở đâu, không hiểu về nguồn gốc hay lịch sử của nó. Năng lượng nầy là trong suốt không có một chút kinh nghiệm nào như tâm của em bé dưới hai tuổi vậy. Con người năng lượng nầy không có tên, không có lịch sử sẽ bắt đầu chú tâm đến việc là nó sẽ làm nhân chứng cho bản ngã của bạn(gồm tinh thần và xác thân của bạn hoạt động ngày đêm). Điều nầy vô cùng quan trọng. Bây giờ chỉ là giả thiết và sau nầy bạn sẽ hiểu sự thật của giả thiết nầy là gì. Nhưng nếu bạn không nêu giả thiết nầy ra thì mọi việc bế tắc. Lúc mà bạn nhận ra giả thiết nầy là gì, lúc ấy bạn và chứng ngộ là một.

3. Bạn không cần phải tham, phải ham muốn mới có cái nầy cái kia. Bạn sẽ có mà không cần phải tham lam hay ham muốn gì cả. Bạn muốn có cái gì thì rồi sẽ có và có trong êm đềm thư thả giống như chỗ nào trũng thì nước chảy tới cho đầy vậy thôi. Nếu phần trũng càng mở rộng thì nước vẫn tiếp tục tràn vào một cách tự nhiện.

Sức mạnh của một “linh hồn sống” trong thân thể còn đang sống rất là mạnh mẽ. Mạnh đến nổi, nếu có đủ điều kiện nó có thể sáng tạo hay hủy diệt những vấn đề vô cùng lớn lao. (tôi tạm mượn từ “linh hồn sống” để chỉ khả năng của tâm). Các bạn rất cần nhận biết sức mạnh nầy. Sức mạnh nầy mạnh và huyền diệu như “Ông Trời” hay “Tạo Hóa” vậy. Nếu chúng ta nhận ra được và hãy để cho “linh hồn sống” nầy xuôi theo dòng vận hành của Tạo Hóa thì các bạn sẽ thấy bản ngã một con người là một biểu tượng thu nhỏ của Tạo Hóa và bản ngã không có khả năng hiểu được Tạo Hóa. Bản ngã chỉ thừa nhận năng lực mầu nhiệm của Tạo Hóa. Sự thừa nhận ấy dẫn bản ngã nhập vào lòng tin tuyệt đối vào sức mạnh nầy và cuối cùng bản ngã hòa tan trong ấy. Việc nầy dẫn đến không còn một bản ngã riêng để thỏa mãn các ham muốn của nó. Các bạn cũng đừng quá lo sợ hay không thích thú chỗ nầy. Rồi các bạn sẽ hiểu bằng chính kinh nghiệm khi bản ngã có vai trò như là một biểu tượng thu nhỏ của Tạo Hóa.

4. Bạn đừng sợ bản ngã, đừng chê trách nó, đừng lên án bản ngã. Hãy để cho bản ngã hoạt động dưới nhân chứng của năng lượng thấy biết thuần túy vô nhiễm, nghĩa là năng lượng nầy không chứa một kinh nghiệm nào. Khi bạn không sống trong trạng thái thiền thì bản ngã là rất tai hại. Khi tôi dùng cụm từ “bản ngã tai hại” có nghĩa là lúc ấy bạn chưa ý thức được bản ngã của bạn và vì vậy bạn không ý thức được bản chất của nó hay vai trò của nó đối với con người không tên, không lịch sử, không kinh nghiệm đang hiện hữu nơi bạn. Còn khi bạn đã ý thức rõ mọi diễn biến của bản ngã thì lúc nầy bản ngã lại trở thành thanh tịnh hay là bản ngã trở thành phương tiện thanh tịnh cho trạng thái thiền hay trạng thái định của tâm. Bấy giờ bản ngã cũng có thể gọi một tên khác là cái bóng của trạng thái thiền, hay có thể gọi là linh ảnh của trạng thái thiền, bản ngã và trạng thái thiền là một.

Khi bạn giận ai bạn tự nói rằng “Bản ngã của ta có tên là Trần văn A đang giận chứ ta không giận. Bởi ta không có tên, ta không có kinh nghiệm gì trong cuộc sống nầy, không ai hiều ta thì làm sao ta giận được. Nhờ nhân duyên tinh huyết của hai bản ngã mà ta hiện hữu trong một thân thể sau nầy có tên là Trần văn A. Nó giận chứ ta không giận được. Những điều kiện giận không thể tồn tại trong ta. Ta không có kinh nghiệm gì để giận hờn, buồn vui. Ta giống như tâm của đứa bé dưới hai tuổi.” Như vậy bạn sẽ vượt qua khổ đau của sự giận, vượt qua điên đảo, bạn chính là niết-bàn đang hiện hữu. Từ đây và sau nầy bản ngã của bạn chính là hóa thân của một vị Phật. Vì vậy đừng sợ hay chê trách bản ngã.

5. Bạn không tuân theo một bài học nào về kiểu thiền của am thất hay trường lớp, vì khi bạn tập như vậy bạn sẽ dễ bị bệnh tâm thần hay hoang tưởng là chứng đắc. Các bạn hãy xem các bậc giác ngộ như Đức Thích Ca, Jesus, Mohamed, Lão Tử, Bồ Đề Đạt Ma, Lục Tổ Huệ Năng có tu thiền theo một bài bản khuôn mẫu nào đâu. Các Ngài ấy nói ra những điều không từ kinh nghiệm cuộc sống cá nhân.Trong khi mấy ngàn năm nay bao nhiêu triệu con người học theo khuôn mẫu có thành cái gì đâu. Đừng tin vào ấy mà phí thời gian cuộc đời mình. Khi bạn theo một khuôn mẫu nào thì tâm của bạn lại vào thế giới kinh nghiệm, lại bị co lại và làm cho trang thái thiền của tâm bị che lấp và bạn trở thành người biết thêm những bài học từ suy nghĩ con người. Đối với thiền, bạn không thể theo kiến thức để làm một cái gì đó gọi là thiền được. Đừng mặc áo để lấy bằng về thiền. Bạn cốt sao ở dưới nước mà có thể bồng bềnh. Bạn nên có kinh nghiệm bồng bềnh nầy hơn là hiểu các bài học về bơi.

6. Bạn không chạy trốn đâu cả. Cứ ngay trong sinh hoạt hàng ngày của bản ngã hãy để cho năng lượng thấy biết thuần khiết kia làm nhân chứng trung thực trong mọi thời, mọi nơi cho bản ngã. Nếu bạn chạy trốn hay tránh né thực tế cuộc sống đòi hỏi nơi bạn nghĩa là bạn chính là con ma sợ ánh sáng. Bạn không thể tìm thầy học thiền trong am thất được vì người thầy ấy cũng đang trong mờ mịt về chỗ tận cùng và phải nương tựa một hình thức nào đó để lừa chính họ và dẫn dắt nhưng kẻ sợ hải khác vào con đường mòn của kinh nghiệm sách vở. Không một bậc Đại Giác Ngộ nào lại mở trường dạy thiền; mà nếu có mở các Ngài ấy cũng biết sẽ khó có ai thành công cả. Các bạn nên đề phòng một thứ bệnh nguy hiểm do suy nghĩ tạo ra. Đó là khi học với một ông thầy hay đọc một số sách và cảm thấy thích vì hiểu được nó. Từ ấy mà nghĩ rằng mình đã chứng đắc điều gì đó rồi. Rồi các bạn lại tiếp tục rao giảng những hiểu biết ấy, những hiểu biết không xuất sinh từ cõi vô niệm của “linh hồn sống” chính mình. Đó chỉ là những hiểu biết mơ hồ của ai đó rồi mình hiểu biết lại qua sự đọc hay sự nghe.

7. Hãy bình tĩnh và chấp nhận những đổi thay lớn lao của tâm hồn khi việc thực tập sống trong trạng thái thiền tự nhiên bắt đầu chừng ba tháng trở lên. Nó có thể làm đảo lộn cuộc đời bạn, nhưng đừng lo vì sự đảo lộn nầy đầy phước báu cho bạn và những người có nhân duyên với bạn. Tôi nói thực tập tự nhiên là tôi muốn nói rằng lâu nay chúng ta không có cơ hội để ý đến toàn bộ hoạt động của bản ngã, nay bắt đầu để ý đến nó, tức bạn bắt đầu sống trong trang thái thiền. Đôi khi bạn sẽ rơi vào trạng thái mất khả năng suy tư như một em bé dưới hai tuổi. Lúc ấy bạn sẽ nghe những âm thanh kỳ diệu xuất hiện giống như âm thanh của bản ngã nào đó đang mượn cõi vô nhiễm để dẫn dắt bạn vào thực tại mầu nhiệm mà bạn chưa từng trãi qua để giúp cho bản ngã trãi qua một loại kinh nghiệm bất lực của bản ngã. Âm thanh ấy có thể là âm thanh của bản ngã đã được chuyển hóa về cõi vô ngã. Nói cách khác bản ngã có cơ hội nhận ra sự bất lực của mình và nhận ra vai trò của mình đối với cõi vô nhiễm, cõi thiền. Ở đó sẽ xuất hiện những âm thanh(của bản ngã thanh tịnh) đưa bản ngã vào với chân lý mà bản ngã chưa từng biết bao giờ. Sau kinh nghiệm ấy, bản ngã sẽ nhớ lại nó đã từng trải qua trạng thái giống như của đứa bé dưới hai tháng tuổi để nó có cơ hội hiểu được chính nó. Từ đó bản ngã sẽ tự nguyện hoạt động dưới sự giám sát của chân tánh hay sự thấy biết thuần túy không kinh nghiệm. Điều nầy được tạm hiểu là bản ngã hoạt động trong trạng thái thiền.

8. Hãy thức tỉnh, hiểu rõ, và nghi ngờ sự nhỏ nhoi lệch lạc của kinh nghiệm. hãy thấy càng rõ từ cõi kinh nghiệm sống nầy mà các bạn phóng ra nhiều suy nghĩ hay mọi vận hành của bản ngã không được sự chứng kiến rõ ràng của chân tánh. Nói cách khác, nếu các bạn không thức tỉnh, hiểu rõ và nghi ngờ về kinh nghiệm của mình thì các bạn sẽ không sống được trong trạng thái thiền. Như vậy các bạn không thể trở thành năng lực sáng tạo táo bạo đảo lộn thế giới được. Tôi dám cá cược với các bạn rằng, các bạn không được một kết quả nào khi xách cái thân mạng của mình vào am cốc để học và hành thiền. Bạn sẽ bị bệnh thần kinh. Một trong những thứ bệnh ấy là lừa dối người khác trong vô minh. Một thứ bệnh nữa là luôn nghỉ rằng mình chứng đắc và sẽ sống lập dị trong việc ăn mặc, đi đứng, nằm ngồi, nói năng, giao tiếp. Lòng tham lam sẽ dâng cao, sự ngạo mạn bí mật sẽ tăng cao mà biểu hiện đẹp đẽ của nó là hình thức “khiêm tốn” hay từ hoa mỹ hơn là “khiêm cung”. Các bạn phải hiểu rằng người sống thật sự đơn giản và khiêm tốn là người không ý thức về khiêm tốn, không hiểu gì về khiêm tốn, không học về khiêm tốn bao giờ. Họ sống rất tự nhiên, hồn nhiên theo hoàn cảnh mà thích ứng tự nhiên. Người mà học nhiều về khiêm tốn thì sẽ bị mang bệnh khiêm tốn và sống lừa dối dưới hình thức khiêm tốn. Không có người nào học giỏi và thực hành giỏi về khiêm tốn có thể sống khiêm tốn được từ trong trái tim được. Bên ngoài họ luôn thể hiện hình thức khiêm cung thì bên trong lòng cao ngạo, tham lam và bệnh hoạn tinh thần càng dâng cao mãi. Tại sao các bạn thường bị khuất phục bởi các hình thức đóng kịch không hồn nhiên vậy. Bạn coi đó, ai cũng yêu trẻ thơ và có cả những sự ưu ái lớn cho trẻ thơ. Mà trẻ thơ thì chẳng bao giờ biết khiêm tốn hay khiêm cung là gì. Trẻ thơ đáng được yêu mến và ca ngợi bởi chúng không biết đóng kịch, chưa có kinh nghiệm đóng kịch. Tại sao các bạn cứ cúi đầu làm nô lệ cho các diễn viên sân khấu xuất sắc như vậy. Hay tại các bạn cũng rất muốn đóng kịch như vậy mà không đóng nổi bởi các bạn thiếu bản lĩnh, thiếu lòng tự tin vào mình?

9. Bạn sẽ là năng lượng giúp cho những ai yêu quý bạn, tin tưởng bạn tiếp nhận lộc trời giống như ngẫu nhiên vậy. Nếu các bạn sống được trong trang thái thiền thì chính các bạn sẽ thật sự hạnh phúc vô biên với trạng thái an lạc của thiền. Rồi chính bạn là khối năng lượng ân phước vô hình cho những gì chung quanh bạn bởi đạo đức thánh thiện đang nở hoa trong lòng bạn mà bản ngã không biết được. Năng lượng đạo đức đặc biệt nầy có sức chiêu cảm những điều lành đến với những ai thật sự mong muốn gần gủi bạn hay thường nghĩ về bạn. Bản ngã không thấy điều nầy. Bản ngã của bạn và bản ngã của người chung quanh cũng không thấy được sự kỳ diệu nầy. Bản ngã luôn nhỏ bé và bất lực đối với năng lượng nầy. Chính vì vậy mà mãi tới ngày nay nếu có ai thành tâm nghĩ tưởng về Phật từ con tim của mình sẽ được hưởng nhiều phước báu.

10. Cuối cùng là bạn thấy cái gì cũng mới, cũng lạ, cũng hay, cũng hồn nhiên đẹp đẽ như cái thấy của đứa trẻ con chưa có kinh nghiệm gì trong cuộc sống của nó. Tại sao bạn rất sợ con của bạn thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống sẽ gặp rắc rối cho chúng? Bởi chính bạn biết rõ rằng đầu óc con người quá phức tạp. Họ có thể ăn thịt đồng loại của mình. Bạn biết rất rõ sự phức tạp và nguy hiểm của các kinh nghiệm loài người. Kinh nghiệm của bạn cho bạn thấy như vậy nên bạn rất sợ sự thiếu kinh nghiệm của con bạn. Như vậy bạn thấy rất rõ đó. Vì con người ít sống được trong trạng thái thiền nên các kinh nghiệm của họ thay vì làm đẹp cuộc đời thì trở thành nguy hiểm cho an ninh con người. Như vậy không còn gì đẹp nữa! Không có gì mới trong cuộc đời nầy nữa nếu bạn không sống được trong trạng thái thiền. Hãy thức tỉnh đều nầy và sẽ thấy mọi thứ đếu mới như mình mới sinh ra mà đã có khả năng thấy biết mọi thứ, vui lắm. Trước khi tạm dứt lời, tôi không quên nhắc các bạn là cũng phải thường cầu nguyện cho công việc chóng thành. Hãy cầu nguyện như vầy: “ Bản ngã tôi cầu nguyện năng lực vô hình của tất cả các Bậc Đại Giác Ngộ hãy phủ lòng từ bi của các Ngài trùm kín bản ngã của tôi để cho nó được sống trong trạng thái thiền.”

Tôi cầu nguyện cho nhiều người tạm gác kinh nghiệm hiểu biết và các thành kiến của bản ngã qua một bên để thực hành được cách sống trong trạng thái thiền. Rồi các bạn sẽ tận hưởng nhiều phúc lạc bởi cái biết đầu tiên sẽ đến một cách kỳ diệu là biết rõ về mình, biết rõ về bản ngã và phần không thấy được của nó, phần thấy biết thuần túy thanh khiết. Mỗi người làm được điều nầy sẽ góp phần cho thế giới hòa bình, sẽ xóa tan các biên giới quốc gia, sẽ gạch bỏ sự ngăn ngại về sự khác biệt văn hóa hay chủng tộc. Ánh sáng màu xanh biển của con tim và ánh sáng màu vàng của trí tuệ từ con tim sẽ tỏa sáng và nuôi dưỡng hành tinh nầy.

Tôi cầu nguyện cho bản ngã của các bạn được thanh tịnh trong mùa xuân mới.

California, ngày 18/12/2005
Duy Tuệ
File Kèm Theo
File Type: doc (Thiền Luận) Sự thức tỉnh của bản ngã.doc (98,0 KB, 362 lần tải)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến Luciola vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (19-05-2010), cheznous (14-02-2011), tuaangs (16-05-2010)
Old 12-02-2011, 12:00 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
Lý Do Và Phương Pháp Tu Thiền.
Chắc chắn rằng chúng ta, những ai muốn tu Thiền đều mong tìm đến một điều gì đó khác hơn những cái ta biết trong cuộc đời này. Chúng ta đã có đủ khôn ngoan để thấy rằng cuộc đời không thỏa mãn tất cả những mong ước của chúng ta, và có thể sẽ chẳng bao giờ. Nhận thức đó chính là một bước ngoặt lớn.
Khi tọa Thiền là lúc chúng ta đang cố gắng để chuyển hóa tâm thường ngày của mình. Cái tâm thức vẫn dùng giải quyết công việc hằng ngày, mua bán nơi phố chợ, nuôi dưỡng con cái, làm việc, lau chùi nhà cửa, kiểm tra hóa đơn và tất cả mọi việc như thế trong cuộc sống đời thường. Không ai xa lạ với tâm thức đó, không có nó, chúng ta không thể sinh hoạt trong đời sống. Chúng ta cần đến nó để tồn tại nhưng tâm tầm thuờng đó không thể nắm bắt được ý nghĩa sâu xa của Phật pháp, vì giáo lý của Đức Phật rất thâm sâu, vi diệu; tâm thường ngày của chúng ta thì chẳng thâm sâu hay vi diệu, chỉ hữu dụng.
Để có được tâm thức có khả năng thấu hiểu được ý nghĩa sâu xa của Phật giáo, hầu biến chúng thành ra một phần của ta, từ đó có thể thay đổi được cái nhìn nội tại, ta cần một tâm thức có khả năng tự tách biệt ra khỏi những quá trình tư duy tầm thường. Chỉ có thực tập Thiền định mới giúp ta có được một tâm thức như thế. Không có cách gì khác hơn. Do đó Thiền chính là một phương tiện, không phải là cứu cánh. Nó là phương tiện giúp ta chuyển đổi khả năng của tâm để tâm có thể cảm nhận những thực tại hoàn toàn khác với những thực tại ta thường biết trước đây. Nhận thức được Thiền chỉ là một công cụ là điều rất quan trọng, vì nó thường được hiểu một cách sai lầm là cứu cánh. Trong Pali ngữ, Thiền được gọi là bhavana, "luyện tâm", được dùng để bào gọt tâm cho đến khi nó trở thành một dụng cụ sắc bén có thể cắt xuyên qua những thực tại thường ngày.
Nhiều người tọa Thiền để tìm cho tâm sự thanh tịnh. Nhưng tâm thanh tịnh, định tĩnh (samatha) chỉ là một trong hai khía cạnh trọng yếu của Thiền. Tuệ giác (vipassana) là khía cạnh thứ hai. Mục đích của tu Thiền là để được Tuệ giác, còn định chỉ là phương tiện giúp ta đạt đến cứu cánh trên. Theo kinh tạng Pali, Đức Phật đã dạy đến bốn mươi hai phương pháp Thiền. Có phương pháp chỉ dùng để được tâm bình an, phương pháp khác lại để đạt được Trí tuệ. Tuy nhiên chúng ta không cần phải thực hành nhiều phương pháp đến vậy.
Mọi người đều muốn tìm sự tĩnh lặng, bình an, khả năng bắt tâm dừng lại những lăng xăng thường ngày. Tuy nhiên, dầu chúng ta muốn đạt được sự thanh tịnh qua việc hành Thiền, phần đông Thiền sinh đều cảm thấy khó có thể vừa ngồi xuống chiếu Thiền là tâm đã được yên tĩnh ngay. Oái oăm thay, tâm ta lại có thói quen làm ngược lại. Nó luôn nghĩ suy, đánh giá, cân nhắc từ sáng đến tối, rồi mộng mơ từ tối đến sáng, do đó tâm khó có được giây phút nào bình yên. Nếu chúng ta cũng đối xử với thân như thế, thì chẳng bao lâu ta sẽ hết hơi. Nếu phải làm việc liên tục, không có giây phút nào được nghỉ ngơi, thì thân không thể chịu đựng nổi sau vài ngày. Khi ta đòi hỏi tâm phải hoạt động như thế, thì ta lại ngạc nhiên khi mọi việc không xảy ra như ý ta muốn, thế giới không đi theo trình tự mà ta nghĩ là nó sẽ phải theo. Đáng lý ra nếu mọi thứ đều xảy ra như ý ta muốn, mới là điều đáng ngạc nhiên, vì những gì đang diễn ra trong tâm ta cũng chính là những gì đang diễn ra trong tâm tất cả mọi người khác. Đó cũng là một khía cạnh quan trọng của tâm hành Thiền – biết rằng chúng ta không phải là người duy nhất mang nặng những khổ đau. Đó là đặc tính chung của cuộc sống, nằm trong đế thứ nhất (của Tứ Diệu Đế) của Phật giáo.
Khổ (dukkha) bao trùm vũ trụ. Nó không dành riêng cho một ai, mà tất cả chúng sanh đều phải gánh chịu. Vì tâm ta chưa được điều phục, thế giới thì vẫn như cũ, nên hành Thiền là một cuộc chiến đấu. Hành giả cần phải tập ngưng lại mọi thói quen đã thành nếp của tâm. Tâm ta đã quen suy nghĩ, nhưng khi ta cần bình yên, tĩnh lặng, thì đó chính là điều ta phải ngưng làm. Nói thì dễ hơn thực hành, vì tâm vẫn sẽ tiếp tục hành động theo thói quen. Thêm một lý do nữa vì sao tâm khó kiềm chế thói quen: vì khi ta tọa Thiền, suy nghĩ là cách duy nhất để khẳng định cái tôi của mình, nhất là khi ta còn giữ im lặng. "Tôi suy nghĩ, do đó tôi hiện hữu,” vài nhà Triết học Tây phương đã coi đó là sự thật tuyệt đối. Thực ra, đó chỉ là một sự thật tương đối như tất cả chúng ta đã biết.
Khi suy nghĩ, chúng ta biết mình có mặt; khi tâm vắng bặt mọi nghĩ suy, ta lại tin rằng mình đã không còn làm chủ. Nhưng thực ra, sự thật là ngược lại. Khi chúng ta không thể ngưng suy nghĩ lăng xăng, ta mới đánh mất sự tự chủ. Chúng ta chỉ làm chủ tâm khi ta có thể bắt nó ngưng lại khi ta muốn. Khó khăn mà phần lớn, nếu không nói là tất cả Thiền sinh phải đối mặt là buông xả. Phải buông bỏ bản ngã khi hành Thiền, hay đúng hơn, sự nghĩ suy của mình, là một thái độ thật quyết liệt. Khi chúng ta chú tâm làm các công việc hàng ngày, chúng ta chủ động hướng tâm đến những gì ta cần làm. Khi muốn làm việc trong nhà bếp, ta chủ động đến đó, chú tâm đến những việc phải làm. Khi phải đến văn phòng làm việc, ta chủ động hướng tâm vào giấy tờ, thư tín và các công việc văn phòng khác. Đối với hành Thiền cũng thế.
Trở ngại thứ nhất là dầu chúng ta muốn được định, muốn trở nên bình an, tĩnh lặng, không có suy tưởng, tâm vẫn không nghe theo chúng ta. Nó không tuân lệnh vì làm như thế có vẻ như ta không có gì để chứng minh sự hiện hữu của mình, và vì làm như thế là ngược lại với những thói quen của chúng ta. Vì thế, thay vì cố hoài, cố mãi để được định, để giữ tâm vắng lặng, ta cần sử dụng bất cứ vọng tưởng nào khởi lên lúc đó để có thể soi rọi tâm mình. Từng chút tri kiến, mang lại từng chút tĩnh lặng, và từng chút tĩnh lặng lại mang đến từng chút tri kiến. Tâm tĩnh lặng cốt yếu chỉ để chuyển hóa tâm bình thường hằng ngày thành tâm siêu việt để có thể hiểu và ứng dụng được giáo lý của Đức Phật để từ một chúng sanh bình thường ta có thể trở thành một cá thể siêu việt. Khi tọa Thiền, nếu như chúng ta không đạt được tâm thanh tịnh, cũng không phải là một vấn đề, vì bất cứ vọng tưởng nào cũng có thể giúp cho ta hiểu thêm về tự ngã. Đó là mục tiêu chính của các khóa tu Thiền. Đó là cuộc hành trình về nội tâm để giúp chúng ta hiểu về mình hơn. Chắc chắn không có gì thú vị hơn thế, dầu rằng cũng có những khía cạnh về ngã mà chúng ta chỉ muốn trốn chạy, chẳng muốn nhận chúng là mình. Nhưng làm sao trốn chạy được khi ta đang ngồi Thiền, do đó ta bắt đầu vọng tưởng, nghĩ đến chuyện này chuyện kia. Ai cũng có thể làm như thế cả, nhưng khi điều đó xảy ra, hãy nhớ là đó chỉ là trốn chạy sự thật.
Để tiến bước sâu hơn vào cuộc hành trình tâm linh này, chúng ta cần thực hành tịnh khẩu (sự im lặng cao quý). Tịnh khẩu có nghĩa là không nói chuyện với nhau, điều đó có lẽ khó làm khi quanh ta có bao bạn bè. Nhưng hãy coi trở ngại đó là một thử thách. Hãy nhớ rằng sự thách thức này là những viên đá lót đường cho ta tiến bước. Tịnh khẩu là một trong những phương thức hữu hiệu nhất trên bước đường tâm linh. Thường chúng ta chỉ có cơ hội thực hành tịnh khẩu ở các khóa tu chuyên sâu. Thông thường, ta sẽ chuyện trò với những người chung quanh, đó cũng là một cách chạy trốn khổ đau. Ai cũng đã từng nếm qua khổ đau dầu ta gọi nó bằng tên gì, như sân hận, sợ hãi, âu lo, bất mãn, thụy miên, vân vân.
Điều quan trọng cần nhớ là diệu đế đầu tiên Đức Phật đã khám phá ra sau khi đạt được Giác ngộ là "khổ hiện hữu.” Khổ là một đặc tính của cuộc sống, của sự hiện hữu. Nếu chúng ta cảm nhận được điều này nơi bản thân, là ta đã chứng minh được điều dạy của Đức Phật là đúng. Chỉ có thế. Chúng ta không cần phải trải qua lại những khổ đau, mà chỉ cần quán sát và nói: "Có chứng cứ.” Có biết bao điều có thể gây khổ đau cho ta, nhưng chỉ cần nhớ đến diệu đế thứ nhất này: “Khổ là hiện hữu", và nói: "Đúng rồi, đó đúng là lời Đức Phật dạy.”
Đức Phật cũng nói về diệu đế thứ hai, đó là nguồn gốc của khổ đau là do ái dục. Chúng ta có thể quay vào, tự hỏi mình: "Những gì tôi muốn mà không được? Những gì tôi được dầu không mong muốn?" Đó là hai lý do, mà thực ra chỉ là một, là cùng một thứ, khiến ta đau khổ. Chỉ có một cách duy nhất để đối phó với khổ đau khi nó dấy khởi, đó là dứt bỏ lòng ham muốn; đau khổ sẽ không còn nữa. Tri kiến đó chỉ có thể có được khi chúng ta không còn hướng ra ngoài, bằng cách chuyện trò, hay những hình thức hoạt động khác. Muốn thực sự có thể soi rọi lại mình, ta cần có những thời gian tĩnh lặng.
Có thể các bạn đã biết hành Thiền. Tuy nhiên, ở đây tôi sẽ giải thích về một số phương pháp hành Thiền và các kết quả mà chúng có thể mang đến. Chỉ có phương pháp mang lại kết quả, là phương pháp hữu hiệu nhất. Nếu phương pháp nào không mang lại kết quả, ta cần sửa đổi lại. Không cần phải bám víu vào riêng một phương pháp nào cả. Mỗi người chúng ta đều có những cá tính, những khuynh hướng khác nhau, dầu rằng tâm ta đều có những khả năng, những tiềm năng giống nhau, do đó ta cần có những phương pháp khác nhau. Có người thích hình ảnh; kẻ thích lời nói, truyện tích; người nữa lại thích con số, thích mọi thứ đâu vào đấy. Có người lại thích tiểu tiết. Có lẽ ta cũng đã biết tâm mình thuộc loại nào, hoặc ta có thể thử nghiệm bằng Thiền để xem phương pháp Thiền nào dễ giúp tâm ta trở nên tĩnh lặng.
Quán hơi thở là cách thực hành cơ bản đầu tiên của Chánh niệm, Chánh niệm về thân (kayanupassana). Tâm Chánh niệm cũng cần có mặt trong tất cả mọi hoạt động khác ở bên ngoài Thiền đường, đó là điều chúng ta thường dễ quên, nhưng ít nhất ta cần hướng đến mục tiêu đó. Thật dễ chịu khi được ngồi xuống chiếu Thiền, quán hơi thở để đạt tâm bình lặng, nhưng nếu chúng ta không gia tăng thêm sự thực tập Chánh niệm ngoài những lúc hành Thiền thì ta cũng khó có được kết quả tu Thiền như mong muốn. Chúng ta chỉ có một tâm, nên ta cần rèn luyện tâm thành nhất điểm, cho tất cả mọi lúc, mọi nơi: đi, đứng, mở, đóng cửa, tất cả mọi hành động, lúc nào cũng chú ý đến các hoạt động của thân. Quán thân bao gồm cả lúc tắm rửa, vệ sinh, ra khỏi giường mỗi sáng, mặc đồ, cởi áo vân vân. Một trong những hoạt động của thân dễ được dùng để quán sát là sự ăn uống, vì ăn uống là một tiến trình bao gồm nhiều động tác.
Không ai có thể truyền dạy cho ta Chánh niệm. Chúng ta phải tự rèn luyện mình bằng nhiều cách. Trong truyền thống của chúng ta (người Tây phương –ND), không có những bậc toàn năng (guru). Chúng ta chỉ có những người lập lại lời Phật dạy từ các kinh Pali, những người có thể giúp ta đôi lời khuyên nhủ. Chánh niệm cần phải được thực hành, phải tự mình rèn mình mà thôi. Không ai có thể giúp Chánh niệm cho ta được; chỉ có ta biết được khi nào ta có Chánh niệm.
Chánh niệm có nghĩa là thân và tâm ở cùng một nơi. "Rửa chén thì biết đang rửa chén”, là một câu nói rất nổi tiếng của Thầy Thích Nhất Hạnh, một Thiền sư Việt Nam. Chứ không phải suy nghĩ, "Giá mà tôi đã rửa xong rồi", hay "Sao người ta dùng nhiều chén dĩa đến thế”, hay “May là nay mai tôi không phải rửa chén nữa", hay "Tại sao lúc nào tôi cũng phải rửa chén?" không có gì giống như thế cả. Chỉ cần biết mình đang rửa chén, thế thôi. Ăn uống cũng thế, không phải là: "Tôi thích món này. Không biết họ làm món này thế nào?" Mà chỉ biết là mình đang ăn. Ứng dụng như thế cho tất cả mọi hành động của chúng ta. Đức Phật đã nói: "Cách duy nhất để thanh tịnh hóa, để diệt trừ phiền não, tiếc nuối, oán than, để chấm dứt mọi khổ đau, để bước vào con đường cao thượng, để đạt được Niết bàn (nibbana) là tâm Chánh niệm." Chúng ta còn chờ gì nữa. Tất cả chúng ta đều có đôi chút Chánh niệm; ta chỉ cần phát triển nó thêm.
Hành Thiền là một cách để ta thực hành Chánh niệm cho đến khi nội tâm ta trở nên vững mạnh đến độ ta có thể nhận chân được sự thật tuyệt đối ở đằng sau sự thật tương đối. Tâm Chánh niệm đã được rèn luyện trên chiếu Thiền giờ có thể mang áp dụng vào tất cả mọi hoạt động của ta. Ở đây chúng ta chỉ nói về Chánh niệm nơi thân, vì các hoạt động của thân liên tục xảy ra. Vì thân có thể được xúc chạm, có thể được mục kích, chúng ta dễ hướng thân và tâm lại một nơi, hơn là để tâm phóng ra muôn hướng trong khi thân đang làm một chuyện khác. Nếu ta có thể trụ tâm và thân vào một chỗ, thì ta dễ quán hơi thở, vì lúc đó chỉ có hơi thở là hoạt động – chúng ta đang thở ra, thở vào. Không có gì khác. Mọi thứ khác chỉ là phụ thuộc.
Khi chúng ta theo dõi hơi thở, tâm ta cũng gắn vào hơi thở, đó thực sự là Chánh niệm. Được gọi trong tiếng Pali là anapanasati, hay "quán hơi thở ra, hơi thở vào.” Ta sẽ nhận thấy là tâm ta không phải lúc nào cũng muốn ở yên một chỗ, nó luôn muốn phóng đến nơi khác. Ta sẽ dùng sự phóng tâm này để hiểu chính nội tâm mình. Không phải để chỉ nói: “vọng tưởng, vọng tưởng”, vì chúng ta sẽ chẳng học hỏi được gì từ đó; nên ta sẽ học cách đặt tên. Chúng ta sẽ nói: “Quá khứ” “tương lai” hay “nhảm nhí” (từ cuối có lẽ thích hợp cho nhiều thứ nhất). Chúng ta cũng có thể nói: “ước muốn”, “mơ mộng”, “tính toán.” Từ cuối ở đây cũng rất phổ thông. Vì chúng ta thường nghĩ là mình chẳng đạt được gì khi ngồi Thiền, nên tranh thủ tính toán những việc cần làm trong tương lai. Tên gọi nào chợt đến trong đầu, thì dùng tên ấy, không cần phải tìm tên gọi cho thật chính xác, vì hành động đó lại dẫn đến những suy nghĩ khác.
Nếu vọng tưởng chỉ thoáng qua trong đầu như những đám mây, không cố định mà chóng tan, thì không cần phải chạy đuổi theo chúng để đặt tên. Nhưng nếu suy nghĩ của ta cố định, tốt hơn nên đặt cho chúng một tên gọi. Việc làm này mang đến hai kết quả. Thứ nhất là nó sẽ làm cho vọng tưởng đó tan biến đi, vì tâm không thể làm hai việc cùng một lúc. Đặt cho nó một cái tên, có nghĩa là ta có thể theo dõi vọng tưởng một cách khách quan, không để chúng dẫn dắt ta theo. Vì thế, chúng sẽ tan đi như bọt nước. Kết quả thứ hai của việc đặt tên rất hữu ích vì nó giúp ta có thể nhận ra được quá trình tư duy và các thói quen suy nghĩ của ta. Nhận thức này rất quan trọng, vì nó giúp cho Thiền sinh không mắc phải sai lầm là lúc nào cũng tin vào những suy nghĩ của mình. Chỉ có những người không bao giờ biết quán tưởng mới tin vào những suy nghĩ của mình. Khi đã quen đặt tên cho những suy nghĩ của mình khi tọa Thiền, ta sẽ nhận thấy quá trình tư duy của ta rất tùy tiện, thường không có ý nghĩa gì đích thực chỉ vô nghĩa, đôi khi còn là điều ta chẳng muốn nghĩ tới.
Có được tri kiến về những suy nghĩ của mình như thế trong lúc tọa Thiền giúp ta có thể buông bỏ những suy nghĩ vô bổ, làm cho cuộc sống của chúng ta bớt căng thẳng. Nếu chúng ta có thể buông bỏ vọng tưởng bằng cách đặt cho nó một cái tên lúc đang hành Thiền thì ta cũng có thể làm như thế trong đời sống hằng ngày. Nếu không sự hành Thiền của chúng ta thật vô nghĩa – chúng ta chỉ ngồi để đầu gối sưng thêm, chứ chẳng đem lại kết quả gì. Chúng ta cần phải áp dụng những gì ta thực hiện được trong khi ngồi Thiền vào trong cuộc sống đời thường của mình.
Khi ngồi Thiền, chúng ta buông bỏ mọi vọng tưởng. Khi chúng xuất hiện lại, ta lại buông bỏ. Thay vì nghĩ suy, ta chú tâm vào hơi thở. Trong cuộc sống đời thường, ta cũng tập buông bỏ những tư tưởng bất thiện, thay bằng các tư tưởng thiện. Quá trình chuyển đổi cũng giống nhau, khi chúng ta đã rèn được như thế lúc hành Thiền, nó sẽ trở thành một thói quen tốt trong cuộc sống. Không phải lúc nào ta cũng thành công (không có việc gì là luôn luôn cả), nhưng ít nhất ta biết là điều đó có thể xảy ra.
Khi chúng ta nghe lời Phật dạy, ta biết rằng Đức Phật đưa ra những lý tưởng để ta noi theo, vì thế nếu như ta chưa đạt được đến cái lý tưởng ấy, thì cũng chẳng cần tự trách mình. "Nhận biết, không trách cứ, rồi chuyển hóa" là một phương châm quan trọng cần nhớ: có nghĩa là chúng ta nhận biết những gì đang diễn tiến ra trong nội tâm nhưng không phải để tự trách hay trách người. Sự việc là như thế, nhưng chúng ta, là những sinh vật biết nghĩ suy, có khả năng thay đổi, và đó là điều chúng ta cố gắng thực hiện khi hành Thiền. Chúng ta có thể buông bỏ vọng tưởng, trở về theo dõi hơi thở. Chúng ta cần thường xuyên thực hành như thế, thì hành động này ngày càng trở nên dễ dàng, tự nhiên hơn đối với ta. Dần dần tâm ta sẽ nhượng bộ. Nó sẽ nói: “Thôi được. Tôi sẽ ngưng mọi suy tưởng trong chốc lát.” Hành động này trở nên dễ dàng hơn, không chỉ vì nó đã trở thành thói quen mà vì ta cũng có nhiều quyết tâm hơn để buông bỏ sự suy nghĩ viễn vông, vì ta biết những suy nghĩ đó thật vô ích. Chúng không đem lại kết quả gì, chỉ quẩn quanh, chỉ quấy rối ta. Nhờ đó tâm nhận ra được giá trị của việc an trụ vào đề mục Thiền quán.
Nếu ta có thể giữ Chánh niệm trong hơi thở khi hành Thiền thì ta cũng dễ giữ Chánh niệm trong cuộc sống hằng ngày. Cái này hỗ trợ cái kia. Vì không thể có hai con người trong mỗi chúng ta. Chúng ta rèn luyện chỉ một tâm mà thôi. Rõ ràng là chúng ta bỏ nhiều thời gian cho các sinh hoạt hằng ngày hơn là thời gian ngồi Thiền. Do đó chúng ta không thể bỏ hết công phu rèn luyện khi bước ra khỏi Thiền đường.
Có năm cách theo dõi hơi thở. Cách cổ điển nhất, mà cũng khó nhất và cũng dễ đem lại thanh tịnh nhất. Đó là chú ý đến hơi thở vào ra ở ngay mũi. Theo truyền thống, ta theo dõi hơi thở lúc vào lẫn lúc ra, vì ta không muốn để tâm có dịp lan man trở vào con đường quen thuộc, ta muốn buộc nó luôn ở nơi hơi thở. Hơi gió ở mũi khi ta hít vào tạo cho ta một cảm giác, giúp ta chú tâm vào đó. Đây là cách chú tâm vào hơi thở ở "một điểm” rõ ràng nhất, và thường được các Thiền sinh kinh nghiệm sử dụng nhiều nhất. “Một điểm” có nghĩa là chỉ ở một chỗ duy nhất, là đặc trưng của Thiền. Vì sự chú tâm được đặt ở một điểm duy nhất, nó giúp tâm trở nên nhạy bén, không buông lung.
Chúng ta có thể sử dụng thêm các phương pháp hỗ trợ để giữ tâm Chánh niệm trên hơi thở. Đếm hơi thở cũng là một cách. Chúng ta đếm “một” khi hít vào, “một” khi thở ra. Rồi “hai” khi hít vào, “hai” khi thở ra, cho đến mười. Khi tâm lan man, ta bắt đầu đếm trở lại “một”, không kể ta đang ở năm, sáu hay tám. Phương pháp này thích hợp cho những ai thích con số, có đầu óc tổ chức rạch ròi.
Người không thích đếm số, có thể nghĩ “tĩnh lặng” khi hít vào, “tĩnh lặng” khi thở ra. Dĩ nhiên, bất cứ từ nào khác cũng được. Có thể dùng “tĩnh lặng” khi hít vào, thở ra bằng “Từ bi”, đem vào sự tĩnh lặng, và ban phát tình thương yêu ra ngoài. Tuy nhiên, nếu có thể dùng một từ thì tốt hơn, vì càng nạp vào đầu nhiều thứ, càng khiến tâm khó tĩnh lặng. Nếu ta có thể giữ chú tâm vào “tĩnh lặng” khi hít vào, để tĩnh lặng tràn đầy trong ta, rồi thở ra “tĩnh lặng.” Phương pháp này rất thích hợp với người thích sử dụng từ ngữ.
Nếu ta không thích số, cũng chẳng ưa dùng từ, thì có thể dùng hình ảnh – thí dụ, có thể hít vào và tưởng tượng ra một đám mây đang bay vào trong ta. Thở ra là đám mây lại trở ra bao trùm ta. Có người lại hình dung ra đám mây nhỏ khi hít vào, và thở ra đám mây to hơn. Tóm lại, bất cứ sự hỗ trợ nào giúp ta chú tâm đều tốt hơn là những suy nghĩ lan man; dùng hình ảnh thì không tập trung vào được một điểm như theo dõi hơi thở, nhưng vẫn tốt hơn là để tâm suy nghĩ về những gì đã xảy ra tuần trước hay những gì sắp xảy ra vào tuần sau.
Đối với người mới tập tu Thiền, còn có một phương pháp hữu dụng khác. Đó là theo dõi hơi thở vào, cảm giác được nó đi đến đâu. Qua lỗ mũi, lên mũi, xuống cổ, vào phổi, vào đến bụng; rồi ta lại theo nó khi nó đi từ thân ra. Chúng ta không phải đi tìm các cảm xúc do hơi thở tạo ra, nhưng chỉ đặt chú tâm vào mọi điểm nó đến mà ta cảm nhận được khi hít vào hay thở ra. Phương pháp này đặc biệt hữu ích cho những ai hay quan tâm về các cảm giác. Các cảm giác nội tâm được gắn với hơi thở vào, hơi thở ra lại khiến tâm cảnh giác, dễ chú tâm vào con người nội tại. Phương pháp này giúp tâm không chạy theo khuynh hướng bám vào những gì đang xảy ra trong tâm và phản ứng theo đó.
Phương pháp cuối cùng để theo dõi những gì xảy ra với hơi thở vào ra, là biết khi hơi thở vào đầy trong ta, và khi thở ra là đẩy hết hơi thở ra. Đó cũng là một phương pháp chú tâm hữu ích.
Chúng ta đã xét qua năm phương pháp sử dụng hơi thở vào ra khi tọa Thiền. Tuy nhiên mỗi lúc chỉ dùng một phương pháp. Hãy chọn phương pháp nào bạn cảm thấy thoải mái để thực hành lúc tọa Thiền. Nếu phương pháp đó không giúp bạn chú tâm được chút nào, thì lần tọa Thiền sau hãy sử dụng một phương pháp khác. Đừng thay đổi khi bạn đang ngồi Thiền.
Nếu tâm ta cứ chạy lăng xăng, hãy nghĩ đến tính cách Vô thường của mỗi hơi thở ra vào. Tâm bình thường vẫn luôn thích nghĩ ngợi này nọ, thì ít ra cũng hướng nó đến những suy nghĩ lợi ích hơn. Không phải là bất cứ đề tài nào tâm thích hướng tới, nhưng là xem mỗi hơi thở vào, hơi thở ra đoạn diệt như thế nào – luôn thay đổi, và cuộc đời ta tùy thuộc vào hơi thở như thế nào. Không có hơi thở ra, hơi thở vô liên tục, ta sẽ không còn mạng sống. Nếu ta bám vào chỉ hơi thở vô hay hơi thở ra trong vài phút, ta cũng chết. Đó là cái biết nội tâm thiết yếu giúp ta liên kết tâm với tính cách Vô thường của mỗi con người, đặc biệt là đối với bản thân ta.
Nếu tâm đã được rèn luyện để theo dõi hơi thở, thì hãy giữ tâm ở đó, nhưng nếu tâm không ngừng vọng tưởng thì hãy hướng tâm đến tính cách Vô thường của hơi thở. Sự chú tâm đó giúp ta khởi nghĩ: nếu cuộc sống ta phải dựa vào hơi thở vào ra, thì trong ta còn gì không đến rồi đi? Tâm ta từ đó sẽ hướng vào bên trong, và có thể trụ vào hơi thở dễ dàng hơn.
Tất cả chúng ta ai không muốn có được những phút giây bình an, tĩnh lặng, và chúng ta đáng được hưởng như thế, nếu không việc tọa Thiền sẽ trở nên là một công việc nhàm chán, chứ không đem lại thích thú gì. Nhưng chúng ta cần có sự hướng dẫn tâm linh, nhất là đối với người Tây phương chúng ta. Vì từ lớp mẫu giáo chúng ta đã được rèn luyện để nghiên cứu, tìm tòi, suy nghĩ. Được huân tập như thế, nên ta vẫn tiếp tục hành động như thế, rất khó bắt tâm ta phải ngưng lại như ta muốn. Vì thế ta cần phải thử mọi phương pháp nào có thể giúp ta hành Thiền.
Quán tưởng về tính cách Vô thường của hơi thở đem lại nhiều lợi ích cho nội tâm ta, và tốt hơn nhiều so với những nghĩ suy về quá khứ hay tương lai. Có thể trụ vào hơi thở, có nghĩa là ta Chánh niệm “ngay giây phút này.” Nghe có vẻ lạ, nhưng nếu không có sự rèn luyện, ta khó thể làm được điều đó. Chúng ta chỉ có thể sống trong từng giây phút, nhưng lúc nào ta cũng nghĩ suy về quá khứ, đã qua không trở lại, lo lắng cho tương lai, mà thực ra không gì hơn là những điều ta ước mơ, mong cầu. Khi tương lai đến, nó trở thành là hiện tại. Chúng ta không bao giờ sống trong tương lai, nó chỉ là những khái niệm. Nếu chúng ta muốn đạt được Trí tuệ, ta cần phải kinh nghiệm cuộc sống, mà muốn thế, ta cần phải có mặt trong giây phút hiện tại. Càng luyện tâm sống trong giây phút hiện tại, ta càng thật sự hiểu cuộc sống của nhân loại là như thế nào. Nếu không ta chỉ sống trong hoài niệm hay hoài vọng. Có mặt trong giây phút hiện tại là có mặt với từng hơi thở. Chúng ta không thể nắm bắt một hơi thở đã qua hay chưa tới. Chúng ta chỉ có thể theo dõi hơi thở đang xảy ra. Điều này rất quan trọng trong việc giúp ta hiểu tâm hoạt động như thế nào. Đức Phật không muốn chúng ta tin vào những lời Phật dạy mà không có suy nghĩ, tự vấn. Những lời dạy của Đức Phật không khác gì hơn những lời hướng dẫn, chỉ đường, những cột mốc để ta tự mình đi tới.
Một cách ngồi đúng là lưng thẳng, nhưng thả lỏng, không gò ép. Vai thả lỏng bằng cách co lên, rồi từ từ hạ xuống. Thả lỏng bụng, cũng là điểm căng, và thả lỏng cổ. Chân ở thế ngồi nào mà ta có thể chịu đựng trong một khoảng thời gian. Tay có thể để ở gối, ngữa ra hoặc úp xuống hay để ở giữa, chồng lên nhau. Mắt hơi nhắm. Nhưng nếu cảm thấy buồn ngủ, thì mở mắt ra ngay, nhìn vào chỗ sáng, hay chuyển nhẹ thân để giúp máu lưu thông, rồi khép mắt lại.
Các cảm giác đau, khó chịu dấy khởi có thể được coi như một cách để đạt được Trí tuệ. Cảm giác đau đớn, khó chịu nhắn gửi cho ta hai bài học quan trọng. Khi cảm giác đau đớn ở thân dấy khởi, phản ứng đầu tiên của ta sẽ là: "Tôi không muốn chịu đựng cảm giác khó chịu này.” Đó là cách chúng ta phản ứng trong cuộc sống, và đó là lý do tại sao ta cứ ở mãi trong vòng Luân hồi sinh tử (samsàra). Ta muốn chạy trốn cảm giác đau đớn, khó chịu, nhưng lại muốn níu kéo mãi những cảm giác dễ chịu, sung sướng. Đó là điều khó thể thực hiện. Trong cuộc chiến đó, không có người thắng, vì thế nếu như ta càng sớm biết đó không phải là cách đối mặt với khổ đau một cách khôn ngoan, thì ta càng dễ đối phó với các cảm giác khó chịu này trong cuộc sống hằng ngày.
Chúng ta cần nhận ra rằng sự đau đớn dấy khởi nơi thân khi tọa Thiền ở một chừng mực nào đó, cũng giống như thế. Khi đầu gối tiếp xúc với gối tọa Thiền hay của chân trái trên đùi – nơi nào có bị đau, là có sự va chạm, tiếp xúc. Tất cả các xúc chạm của giác quan đều mang đến cảm giác. Các đấng Giác ngộ cũng có một trong ba cảm giác, đó là: khổ, vui và trung tính (không khổ, không vui). Tuy nhiên thường ta coi cảm giác trung tính cũng thuộc về cảm giác dễ chịu vì chúng không mang đến cho ta sự khó chịu, đau đớn. Vì thế thật ra là ta chỉ phải đương đầu với hai loại cảm giác dễ chịu hay khó chịu. Gần như tất cả những giờ phút tỉnh thức, ta đều phải quan tâm đến chúng. Do có xúc chạm, dấy khởi các cảm giác, từ đó sinh ra các khái niệm, nhận thức rằng “cái này làm đau”, hay “cái này không tốt.” Giả dụ như ta vừa nhận thức “cái đau”, lập tức tâm phản ứng tức thì, phản ứng một cách bản năng (cũng được gọi là tạo nghiệp): “Tôi không thích như thế”, “Tôi muốn chấm dứt đau đớn”, “Tôi phải cử động”, “Làm vậy khá nguy hiểm đấy, máu tôi không lưu thông được”, hay những suy nghĩ đại loại như thế.
Tâm hành (sankhàra) cũng là nghiệp hành. Nghiệp phát khởi trước hết là do tác ý, rồi đến lời nói và cuối cùng là hành động. Khi tác ý, chúng ta đã phần nào tạo nghiệp xấu, qua các ý niệm ác khởi trong tâm. Tuy nhiên vấn đề không nghiêm trọng, vì các tác ý phát khởi do khuynh hướng bản năng, không kiềm chế của chúng sanh. Nhưng nếu ta muốn chuyến đổi chúng, cũng như tâm bình thường, ta phải chuyển đổi các phản ứng theo bản năng. Chúng ta có thể nghĩ: “Đây là cảm giác khó chịu, đau đớn, nhưng ta không mong đợi nó, tại sao ta phải coi nó là mình? Nó chỉ là một hiện tượng phát sinh, phải không?"
Ở đây ta rèn luyện tâm không dính mắc, buông bỏ các cảm giác khó chịu để trở về với đề mục Thiền quán. Ai cũng có thể làm thế trong một khoảng thời gian hạn chế. Hạn chế đến mức nào là tùy mỗi cá nhân. Khi một cảm giác khó chịu khác lại đến, ta lập lại quá trình tư duy như trên. Chúng ta cũng cần nhận thức rằng thân luôn có khổ, nếu không chấp nhận được sự thật này, chúng ta càng thêm khổ. Không phản kháng lại cái khổ, không mong cầu thay đổi, chúng ta sẽ tránh tạo thêm căng thẳng, phiền não. Tuy nhiên tới một mức nào đó, khi tâm lên tiếng: "Thôi đủ rồi, tôi không thể chịu đựng thêm nữa sự đau đớn.” Lúc ấy ta sẽ chuyển đổi vị thế một cách nhẹ nhàng, chậm rãi, để không làm phiền đến người tọa Thiền bên cạnh, hay làm tâm ta bứt rứt với ý nghĩ rằng mình đã phải chịu thua các cảm giác đau đớn của mình.
Điều đó cũng ổn thôi. Chúng ta vẫn thường phải khuất phục trước các cảm thọ của mình, tuy nhiên ở đây ít nhất ta còn nhận diện được chúng. Ta biết rằng mình chịu thua vì các cảm giác đau đớn khiến ta khó chịu. Trái lại nếu chúng ta có thể coi cảm giác đau đớn chỉ là cảm giác, mà không phản ứng theo thì ta đã tự thắng được mình. Đó là một tiến triển nội tâm đáng kể. Không ích lợi gì khi ta ngồi đó cắn răng chịu đựng với ý nghĩ: “Tôi sẽ tiếp tục ngồi, dầu có phải chết”, hay “Tôi sẽ cho mọi người thấy là tôi có thể chịu đựng được mà.” Đó là một thái độ đầy sân si chứ không phải của Trí tuệ. Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều đã kinh nghiệm về khổ đau (dukkha), nhưng việc nhận biết được các phản ứng của ta đối với chúng, sẽ giúp nội tâm ta tiến bộ hơn. Đây là một cách hữu ích để ứng dụng với các đau đớn nơi thân.
Một phương pháp khác nữa để đối trị các khổ thọ là dùng chúng để làm đề mục quán tưởng, giữ chúng nơi tâm. Cách này chỉ có thể sử dụng được nếu như ta không oán ghét các cảm thọ đó, nếu không tâm sẽ phản ứng ngay. Kiên trì chú tâm nơi các cảm thọ sẽ giúp ta nhận được tính cách luôn thay đổi của chúng. Có thể lúc đó các cảm giác đau đớn đã hoàn toàn biến mất.
Tóm lại, ta có thể một là trở về Chánh niệm trên hơi thở bằng cách buông xả các cảm thọ hay dùng chính các cảm thọ làm đề tài quán tưởng. Có lúc ta cũng có thể bị chúng khuất phục.
Nếu thời tiết cho phép, ta có thể Thiền hành ngoài trời. Thiền hành cũng đem lại nhiều lợi ích. Đầu tiên là nó giúp thân hoạt động sau thời gian tọa Thiền. Nó cũng giúp tâm ta giữ được Chánh niệm trong một hành động ta vẫn làm hằng ngày. Trong cuộc đời ta đi bộ biết bao nhiêu lần, vì thế nếu như ta có thể chú tâm, Chánh niệm trong Thiền hành, ta dễ ứng dụng vào trong sinh hoạt hằng ngày của mình.
Về cơ bản, Thiền hành cũng giống như tọa Thiền ở chỗ nó giữ tâm nơi hơi thở vào ra. Nó giúp tâm trụ nơi các chuyển động vật lý (thân). Khi ngồi Thiền, ta chú tâm vào chuyển động của hơi thở, trong Thiền hành, ta chú tâm vào chuyển động của bàn chân. Phương pháp nào cũng giúp ta tìm được sự bình an, sáng suốt trong tâm.
Hãy chọn khoảng đường, có thể khoảng hai mươi lăm bước. Đánh dấu bằng một phiến đá, hay bụi rậm hay bất cứ gì. Tránh đụng chạm đến người khác, sẽ phiền đến cả hai. Có thể cùng đi song song hay tìm chỗ nào không có ai. Nên nhìn xuống, vì nếu nhìn quanh quất ta dễ bị quang cảnh chi phối, để ý đến cây cỏ, chim hoa hơn là những bước chân. Ta có thể chú tâm vào ba động tác hay sáu động tác của sự chuyển động của chân. Ba động tác gồm nhắc chân lên, đưa chân tới, rồi đặt chân xuống. Chỉ khi nào một chân đã đặt hẳn xuống thì chân kia mới bắt đầu nhắc lên, khiến cho bước chân ta trở nên chậm rãi hơn bình thường, khiến cho ta không thực hiện hai động tác cùng một lúc. Thông thường khi bàn chân kia vừa chạm đất là chân nọ đã nhắc lên. Bước chân dài ngắn tùy mỗi cá nhân – sao cho thích hợp là được. Trong chuyển động ba động tác, chúng ta có thể chú ý đến từng động tác, hoặc chúng ta có thể đếm thầm “một, hai, ba” khi theo dõi từng động tác. Hay chúng ta có thể nói: “Nhắc, đưa, đặt xuống”, để giúp ta dễ chú tâm.
Nếu tâm bắt đầu khởi vọng tưởng, ta nên dừng lại, đứng yên trong chốc lát. Lần nữa, ở đây, việc đặt tên cho các vọng tưởng cũng rất hữu ích. Nếu sự suy nghĩ quá lan man, đứng yên một chỗ cũng là cách giúp tâm ta có thể buông bỏ những vọng tưởng đó. Không quan trọng là ta phải đứng yên đến bao nhiêu lần; không có việc đánh giá, phán xét ở đây. Không có gì ngoài sự nhận biết. Không đánh giá bản thân hay tha nhân. Đơn giản là nhận biết những gì đang xảy ra bên trong nội tâm ta. Chánh niệm chỉ là cái biết, sự nhận thức, vì thế nếu chúng ta biết những gì đang xảy ra, ta có thể đặt tên cho các suy tưởng, giống như ta đã làm khi ngồi Thiền hay đứng yên một chỗ để giúp chú tâm trở lại.
Ta cũng có thể dùng sự chuyển động của sáu động tác. Trước hết nhắc gót chân lên, rồi cả bàn chân, nhắc chân lên, đưa tới, rồi đặt gót chân, bàn chân xuống. Vì theo dõi nhiều động tác, ta cần nhiều chú tâm hơn. Ta cũng có thể đếm từ một tới sáu. Hay nói: “Gót, bàn, nhắc, đưa, gót, bàn” để giúp ta chú tâm. Hoặc nếu như bạn thích hình ảnh thì có thể tưởng tượng rằng khi nhắc chân lên, một đóa hoa được hé nụ. Khi đưa bàn chân tới, đóa hoa nở ra, và khi bàn chân được đặt xuống, đóa hoa khép nụ lại.
Ai cũng biết rằng mặt đất không bao giờ phản ứng, khi ta dẫm đạp, làm ô uế lên đó, mặt đất luôn nhẫn nại chịu đựng, là một đặc tính ta cần phát triển cho nội tâm. Bất cứ ta làm gì – đặt mạnh hay nhẹ chân xuống mặt đất đều không phản kháng. Khi ta đi trên mặt cỏ, ta thấy đám cỏ như cúi mình dưới bước chân ta, khi ta nhắc chân lên, cỏ lại trở lại bình thường. Đặc tính này được Đức Phật ví như cây tre uốn mình trước những bão táp của khổ đau (dukkha), nhưng không bao giờ gãy.
Đây là “những trụ tâm” để giúp ta trụ vào các đề mục Thiền quán hơn là suy nghĩ linh tinh. Quán cảm thọ cũng là một phương tiện hỗ trợ khác để trụ vào các chuyển động. Khi chân chạm xuống, ta cảm giác xúc chạm vật cứng. Khi nhắc chân lên, cảm giác trở thành nhẹ như không. Khi đưa chân tới, cảm giác chuyển động xuyên qua lực cản của chân không, và khi đặt chân xuống lại cảm giác sự chắc nịch. Các cảm thọ này rất hữu ích trong việc giúp ta chú tâm vào các cử động, nếu không chỉ có hành động lơ là của quán tính. Đó không phải là Chánh niệm. Ta cũng có thể sử dụng ba động tác chuyển động như những trụ tâm.
Giống như khi ta có thể nhận thức rằng hơi thở luôn chuyển đổi, và nhờ thế mà sự sống của ta được tiếp nối, cũng thế đối với những chuyển động của chân, luôn biến chuyển, liên tục. Ta chỉ có thể sử dụng thân của mình khi đặc tính của sự luôn biến đổi có mặt, minh họa rõ ràng một trong ba đặc tính của mọi hiện hũu: tính Vô thường. Nhận thức này đưa ta đến tri giác, trong khi việc trụ vào đề tài Thiền quán liên tục lại giúp ổn định tâm. Cả hai cần được thực tập song song nhau

Trích:
KHI NÀO CHIM SẮT BAY
Ni sư AYYA KHEMA (Diệu Liên-Lý Thu Linh dịch)
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .

thay đổi nội dung bởi: tuanvu_quynh1949, 12-02-2011 lúc 12:08 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (12-02-2011), cheznous (14-02-2011), Udambara (14-02-2011)
Old 13-02-2011, 3:42 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Thân gủi bạn Tuanvu_quynh,

Như là một người bạn, tôi có câu hỏi nầy cho bạn như là một tản mạn đầu xuân:

1. những bài mà bạn đã cho lên diễn đàn rất có giá trị cho ai muốn tìm hiểu về "thiền lý, thiền luận" để tích lủy kiến thức tâm linh, làm phong phú cho sự thao thao bất tuyệt của người đứng trên bục giàng... thiền tông! Trên thực tế, những lý do và nhận định nầy có giúp ích gì cho sự khai ngộ không? Và khai ngộ cái gì? Câu chuyện kinh điển " cửu niên diện bích" phải chăng cũng dành an ủi những người ... lở trọn đời ngồi thiền mà không thấy .... chứng đắc hay đạt quả vị nào, dù kinh sách mô tả khá chi tiết các chỉ tiêu các quá vị?

2. Tôi đặc biệt thấy 10 điểm trong bài giảng của đạo sư Duy Tuệ ( mà Luciola đã cho lên diển đàn) rất phù hợp với ... bộ não thât sự tự do ( kiều bộ não người tiền sử" của thầy Đáng): bộ não của con người thế kỹ 21, và rất thực dụng cho sự hành thiền và là cái nhìn rất mới: bạn nghĩ sao?

Đây là trau đổi tầm nhín minh triết chứ không có ý thách thức gì cả , xin bạn hiểu cho. Mong vậy thay.

Thiên thu
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến thien thu 2 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (15-02-2011), cheznous (14-02-2011), tuanvu_quynh1949 (13-02-2011)
Old 13-02-2011, 8:42 am  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
Kính bác Thiên Thu !
1)Những bài trich dẫn của tuấn vũ tôi, chỉ là cảm nhận của riêng tôi muốn đưa lên để chia sẽ một cách nhìn từ ngón tay để thấy mặt trăng thôi bác ạ !
2)Còn riêng tôi thì khi đã có bộ não rồi ,dù tiền sử hay hậu sử thì tự do đã không còn tự do thật sự nữa,tất cả ngôn từ hay tất cả kinh, sách, luật, luận.của bất cứ ai cũng chỉ là ngón tay chỉ vô nghĩa vào vùng trời vô biên,ở đó không có không gian không có thời gian,không có sự hiện hữu của ba thời,nên với tôi không có cái đầu và không có cả tầm nhìn.Chỉ là trăng lồng đáy nước.
Lập ngôn mạo muội ,thô thiển mong bác hoan hỷ và đồng môn lượng thứ.
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 6 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (15-02-2011), cheznous (14-02-2011), NATO (13-02-2011), thien thu 2 (13-02-2011), Udambara (14-02-2011)
Mỗi người một kiểu
Old 13-02-2011, 11:57 am  
NATO
No Action, Talk Only
 
NATO's Avatar
 

Default Mỗi người một kiểu
Hello s/h Thien Thu,

Có lần tsm NATO nhìn những kiểu xe hơi và màu sắc mới trên quảng cáo rồi tự nhủ: "Mẹ kiếp, nó design kiểu gì mà kinh dị thế, ai thèm mua!" Nhưng khi NATO có dịp ra đường thì giật mình vì có rất nhiều người đang lái những chiếc xe đó. Từ đó, tsm không dám ... chửi thề vụ này nữa. Nhờ vậy, khi vào đường đạo, cái gì tsm thấy lợi lạc cho mình thì chia sẽ, không lợi lạc thì thôi, không thắc mắc cái nào hơn nhau ra sao nữa.

Sư huynh thiên thu ơi, điều gì mà trí mình quan tâm nhiều nhất, nhắc đến nhiều nhất trong 24 giờ của một ngày, thì đó là điều nó ... chấp nhiều nhất. Cho dù đó là cứu độ chúng sinh, làm việc lành phước đúc, hay ý tưởng thánh thiện, hoàn mỹ.. thì cũng là cái chấp pháp, chấp ngã, không hơn không kém. Xa hơn, có nghĩa là chưa thoát khỏi cái trí phàm kia, nói chi đến cái trí siêu việt gì gì đó...

Theo thiển nghĩ của tsm, vô minh không phải là không hiểu đạo, không hiểu đời, hay không nhìn mọi việc một cách sáng suốt với cái đầu tiền sử hay hậu sử gì đó, mà là không hiểu chính mình, không hiểu động lực nào đang tác động, đang sử dụng cái trí mình. Người có thể giảng thao thao bất tuyệt, giảng chính xác giống y như Ngài Duy Tuệ, như Đức Phật hay Chúa Giê-su, mà nếu không hiểu về chính cái tâm của mình thì những chữ Minh Triết và Giác Ngộ cũng chỉ là sáo ngữ thôi.

Đối với NATO, bác TuanVu Quynh là người đạo cao đức trọng, tsm rất trân quý những điều bác ấy chia sẽ. Những "thiền lý, thiền luận" để tích lủy kiến thức tâm linh kia đã từng giúp ích rất nhiều cho tsm. Bản thân kiến thức tâm linh không có tội, mà cái tội là do người ta dùng nó, hay bất cứ điều gì khác, để làm cái danh xưng của bản thân thôi. Ngay cả cái kiến thức mà huynh gọi là dành cho "bộ não của con người thế kỹ 21, và rất thực dụng cho sự hành thiền và là cái nhìn rất mới" cũng là ... kiến thức tâm linh, tuy khác nội dung, nhưng không khác tính cách. Nên nếu khư khư chấp vào và có nhu cầu bác bỏ những "kiến thức tâm linh" khác thì mình chắc cũng không hề vượt qua 5 ngọn núi ngũ hành như Tề Thiên Đại Thánh đã từng cố vượt mà không được.

Vài hàng đóng góp đầu năm. Chúc mọi người thân tâm an lạc.
__________________
NATO
No Action, Talk Only


thay đổi nội dung bởi: NATO, 13-02-2011 lúc 6:52 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 5 người đã gửi lời cảm ơn đến NATO vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (15-02-2011), cheznous (14-02-2011), tuanvu_quynh1949 (14-02-2011), Udambara (14-02-2011), VoDanh (14-02-2011)
Thiền, Tự kỷ ám thị, và Giác ngộ
Old 13-02-2011, 4:49 pm  
Luciola
Senior Member
 
Luciola's Avatar
 

Default Thiền, Tự kỷ ám thị, và Giác ngộ
Thiền, Tự kỷ ám thị, và Giác ngộ

Hiện nay, chữ thiền được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Có người hiểu thiền là một trạng thái tâm thức siêu việt không thể diễn tả được bằng ngôn ngữ. Có người hiểu thiền là sự tập trung cao độ của tâm trí vào một hoạt động nào đó. Tự điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia có một bài khá thú vị về thiền (http://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BB%81n). Nói tóm lại, động từ thiền chỉ hoạt động huấn luyện tâm, danh từ thiền thì nói đến một trạng thái tâm thức là kết quả của hoạt động thiền.

Phương pháp thiền Nhân Điện huấn luyện người học tập trung vào hành động truyền điện, qua đó giúp tăng băng tầng năng lượng cơ thể, giải quyết vấn đề ốm đau thể xác và tăng năng lực tinh thần cho người thực hành (và cả cho người khác). Phương pháp thiền Vipassana tập trung vào những cảm thọ và chuyển động trên thân và tâm để từ đó an định tâm mà đạt đến giải thoát. Phương pháp thiền Duy Tuệ tập trung vào việc khám phá bí mật của não bộ, để từ đó hiểu rõ về tâm trí mình, phát triển tối đa phẩm chất và năng lực cá nhân, và kết quả tối hậu là sống an vui, mãn nguyện. Còn vô số các môn thiền khác, nhưng xin phép không đi sâu vào các lý thuyết chuyên môn vì tính chất vi tế của mọi môn học tâm linh.

Còn tự kỷ ám thị là tự nói thầm với chính mình về một điều nào đó. Trong chữ Hán, Tự là "Mình" hay "chính mình", Kỷ là "bản thân mình", Ám là "ngầm" và Thị là "bảo cho biết".

Vậy phải chăng khi học thiền cũng là lúc ta đang áp dụng thuật tự kỷ để huấn luyện tâm trí, não bộ đi vào một trường năng lượng, một chiều vũ trụ, một tầng ý thức khác. Nói cách khác, coi chừng ta đang tự kỷ ám thị bằng việc nhét vào đầu mình những gì mà những người đi trước nói, cố gắng hiểu chúng và tưởng rằng mình giác ngộ. Mọi vị thầy tâm linh đều luôn nhắc nhở học trò buông bỏ mọi kiến thức, kinh nghiệm để có thể tự trải nghiệm lấy chứ không phải cố gắng hiểu ông thầy hay hiểu những gì ông thầy nói. Xu hướng hiện nay là đưa tâm linh vào đời sống, giúp con người vừa nhận thức rõ hơn về sự hiện hữu hữu tướng của mình, vừa có nhận thức về đời sống vô hình để sống sao cho hợp với luật của tự nhiên, của vũ trụ, hạn chế tối thiểu những rủi ro cả vô hình lẫn hữu hình nhờ có được nhận thức đó. Cho nên, bất cứ lý thuyết nào giúp ta phát triển được kỹ năng và kiến thức (cả đời và tâm linh) thì cũng tốt. Vấn đề là học và sử dụng hợp lý mà không bám chấp, để luôn có thể học nhiều hơn và tiến xa hơn, vì năng lực của não bộ là vô giới hạn. Nhưng vì sức người và thời gian ta sống trên đời là có hạn, tốt nhất ta chỉ nên tập trung vào một pháp và một lòng với nó để phát triển năng lực riêng nhưng không bám chấp. Còn lại những gì khác là để giúp ta tham khảo và phát triển tối đa cái mình đang học và hành. Có như vậy mới mong tận dụng được thân xác này và thời gian sống được trên đời này một cách hữu ích nhất.

Thành công trong một lĩnh vực nào đó thể hiện thần lực của bạn trong lĩnh vực đó, và bạn sẽ có sức ảnh hưởng đến người khác không những trong lĩnh vực bạn thành công mà cả những người ngoài lĩnh vực ấy. Vậy, bạn hãy thiền về năng lực của bạn, xác định sở trường của bạn, học hỏi, phát huy nó tối đa, bạn sẽ có được thần lực trong lĩnh vực đó, sẽ là bậc giác ngộ về lĩnh vực đó. Hãy tự đào tạo mình, sử dụng mọi phương tiện có được và tìm được, tận dụng mọi cơ hội để tự đào tạo. Mọi lĩnh vực, ngành nghề là khác nhau về tên gọi, về kiến thức chuyên môn, nhưng để đạt đến đỉnh cao của nó lại đòi hỏi những phẩm chất và kỹ thuật hoàn toàn giống nhau. Đó là ứng dụng tâm linh vào đời sống.

Nói tóm lại, hãy tập trung làm tốt nhất điều bạn đang làm. Đó là thiền. Hãy biết thật rõ điều bạn đang làm. Đó là giác ngộ. Không cần bàn luận hay tranh luận pháp nào hay pháp nào dở, bỏ cái gì theo cái gì. Pháp hiện diện khắp nơi và cho hết thảy mọi người. Tùy duyên, tùy lực mà đón nhận, không thể bằng ngôn ngữ hay hư thuyết mà truyền hay nhận trọn pháp. Sự giác ngộ không thể mong chờ mà được, nhưng nếu có quyết tâm, kiên định và hết lòng luyện tập, đến một thời khắc nào đó sẽ được nó, một cách rất tình cờ, đầy chấn động.
__________________
Chỉ khi nào anh chị em biết thương linh hồn mình thì anh chị em mới có thể thương mọi người được (thầy Đáng)

- Không tốt - xấu, đúng - sai
- Không bận tâm lo lắng
- Không hơn thua tranh chấp
- Không đề cao cá nhân
- Không đố kỵ hiềm khích
- Không ích kỷ hẹp hòi

thay đổi nội dung bởi: Luciola, 13-02-2011 lúc 5:09 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến Luciola vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (15-02-2011), cheznous (14-02-2011), thachvi (14-02-2011), VoDanh (14-02-2011)
Old 14-02-2011, 1:15 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Thân gủi "TSM" NATO,

"Huynh" biết TSM... vẫn theo dõi từng bước từng bước thầm của mình và , khi cần xuất hiện, thì ... khều nhẹ một cái đau điếng!
Mình đang dùng thì giờ của mình để ( giống như TSM thôi= đóng vai ... nhắc khéo, tạm gọi là trau truyền Minh triết (sic!), dè đâu... chạm đến "kiên thức tâm linh" ! Và TSM đã phang cho một búa Duy Ma Cật bằng cách ...la lớn lên rằng ...

"Người có thể giảng thao thao bất tuyệt, giảng chính xác giống y như Ngài Duy Tuệ, như Đức Phật hay Chúa Giê-su, mà nếu không hiểu về chính cái tâm của mình thì những chữ Minh Triết và Giác Ngộ cũng chỉ là sáo ngữ thôi."

Huynh và TSM có vẻ ... bị "khắc khẩu" ( cả HAI có lẽ đều có sao Thái Tuế thủ mệnh hết chăng?) Hôm nào.... phá chấp Huynh sẽ thân hành đế TTC ( nếu chư thiên không .... cản trở nữa!) để kiểm tra Tử Vi xem sao?!

"Thiên là tiêu diệt kiến thức, là sống chung với bản ngã, là ... thức tỉnh bản ngã" không phải là một lời giảng suông mà là cả một "siêu pháp" ( nhưng cũng chỉ là ... ngón tay chỉ mặt trăng như người ta hay ví von!).

Xin thêm vài câu thanh minh thanh nga sau đây:

..... "Thiền là tiêu diệt kiến thức, là biến cái đầu mình thật sự tự do đối với kiến thức mà chính mình đã lở tích lủy, để cái thấy của Phật tánh trở nên hoàn hảo, không thấy bằng cảm xúc, bằng suy nghĩ, kinh nghiệm. Đừng lo "thiền là diệt kiến thức" rồi mình sẽ bị hụt hẩng vì, qua thể nghiệm, mình sẽ biết và dùng một loại kiến thức mới của chính mình ,do mình phát triển và nuôi dưỡng ; do vậy đó mới chính là đi dứng nằm ngồi đều là thiền, là sống thiền chớ không phải.... tiếp tục giảng về thiền lý thiền luận!
Khi Huynh bỏ thì giờ và sức lực của một người đang mang "nổi buồn của tuổi hoàng hôn" ( vẫn là kẻ lang thang đi tìm.... "đạo") đi hơn nữa vòng trái đất để gặp "Người" thì lới nói đầu tiên của Người là:
"kể từ hôm nay, không có lời nào tôi nói với ông là bình thường cả, và kể từ hôm nay ông ..."thụ pháp giáo ngoại biệt truyền"!

Huynh nói lời tâm sự nầy để giải tỏa tư duy của TSM là .... huynh đang vướng vào một cái chấp ... to tướng khác, rỗng tuếch như cái thùng không kêu to, không tốt cho cái tự tánh đang ... le lói ở cuối đường hầm!
Huynh hiểu rất rõ là mình không phải " không hiểu chính mình, không hiểu động lực nào đang tác động, đang sử dụng cái trí mình. Xin cảm ơn TSM

Thiên thu
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến thien thu 2 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (15-02-2011), cheznous (14-02-2011), liem0962 (14-02-2011)
Old 14-02-2011, 5:12 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Thân gủi Tuanvu_quynh,

Đúng là bạn chỉ "đóng vai" , cũng có thể gọi là "tạo duyên khởi" cho những ai ... đang lang thang tìm kiếm tấm bản chỉ đường để "nhìn trăng đáy nước"! Thiện tai thiện tai!

Bạn còn buông bỏ luôn cái đầu và cả tầm nhìn; thảo nào NATO gọi bạn là đạo cao đức trọng.

Thú thật tôi... hơi bị "chối" về từ nầy của NATO gán ép cho bạn, vì trong "đạo" (1) không có ai hơn ai ( ví dụ Tì kheo Thích Trí Siêu có lần phán rằng " sao người học Phật trong nước thì cứ tìm Thượng tọa Thích Thanh Từ , còn ngoài nước thì tìm Thiền sư Thích Nhất Hạnh- ý là ... "bộ" chì có 2 vị nầy là đạo cao đức trọng hay sao? - bài đang trên "thư viện Hoa Sen" ), và "đức"(2) thì tôi xin thưa : tôn giáo không đào tạo được đức mà do từng cá nhân phát triển do nhiều yếu tố nội tại và khách quan ( như môi trường xã hội, giáo dục cộng đồng, hoàn cảnh gia đình, bối cảnh quốc gia v..v...). Ví dụ: đưa phật giáo vào giáo dục tiểu học bắt buộc như một số nước Á châu, cũng không loại được cướp bóc, đỉ điếm, ma cô và loại bỏ được các hiện tượng tha hóa trong cửa chùa ( phát hiện condom do các sư sử dụng- với ai?)và giáo đường ( lợi dụng việc xưng tôi gạt gẩm và hảm hiếp trẻ con bị pháp luật đưa ra ánh sáng phải dùng quỷ con chiên đóng góp đề bồi thường, không đủ nên Giao Hội phải tuyên bố phá sản theo luật đời!- chuyện bên Mỹ!)

Tôi xin phép dừng lại "hí sự" về thiền nới đây để ... khỏi vì bị bức xúc mà gây thêm "khẩu nghiệp"!

Muôn vàn xin lỗi đã lở lời nói thật nói thẳng!!

Thiên thu

thay đổi nội dung bởi: thien thu 2, 14-02-2011 lúc 2:42 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 3 người đã gửi lời cảm ơn đến thien thu 2 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (15-02-2011), cheznous (14-02-2011), liem0962 (14-02-2011)
Khắc khẩu
Old 14-02-2011, 5:52 pm  
NATO
No Action, Talk Only
 
NATO's Avatar
 

Default Khắc khẩu
Hello s/h Thien Thu,

Huynh nói đúng. Hình như kể từ khi có diễn đàn này, tự dưng mình ... khắc khẩu" hẳn lên. Chắc là bị hoalan ... lây nên cứ thích đem s/h Thien Thu ra ... mần thịt.

Nếu sư huynh thu xếp lên được TTC thì hay biết mấy. Chỉ mất có một giờ thôi. Gọi là "gần sát nhau mà cách mấy nghìn trùng" đấy.

Có lẽ mình ... trục trặc ở chỗ cái trí của huynh bị nhập nhằng giữa giáo pháp và nhân sự trong giáo đoàn. Nếu nhìn người tu mà chán nản, bỏ giáo pháp thì thật là uổng. Nếu nhìn Giáo chủ mà cho rằng đó là ... đại diện của pháp tu thì lại càng nhầm lẫn hơn. Chính nhiều vị giáo chủ cũng tưởng lầm là mình ... sáng lập ra pháp tu. Người có trách nhiệm trao truyền cũng chưa chắc là người sáng lập ra pháp, hoặc đắc pháp ấy.

Những sự kiện tiêu cực vô cùng tệ hại mà huynh nhắc tới trong các giáo đoàn không đồng nghĩa là "đạo" đó không ra gì. Tsm thấy hầu hết những chê trách ấy đều là những chuyện có thật, nhưng lẫn lộn giữa "đạo" và "con người hành các đạo đó" thì lại không ỗn tí nào. Và trong tất cả đạo giáo ấy, chẳng lẽ không có một người nào tốt sao? Nếu có, thì tại sao cái trí của mình chỉ nhìn thấy những người xấu thôi? Cái nhìn của nó có bị lệch không? Tại sao? Tại sao nó không thể nhìn thấy các vị Thánh mà chỉ thấy toàn ... Ma Vương? Tại sao nó chỉ nhìn thấy phương diện tiêu cực của các đạo giáo ấy mà không nhìn thấy những lời vàng ngọc bàng bạc trong các giáo lý? Đã biết rằng "Y pháp bất y nhân" (theo pháp chứ không theo người hành pháp) mà sao nó cứ mãi miết căn cứ vào con người để bác bỏ pháp?

Thôi thì cứ cho rằng cái trí mình có quyền ... nhập nhằng, lẫn lộn rồi bác bỏ pháp, bác luôn giáo lý, tìm cho nó một vị giáo chủ xứng đáng như ý để học đạo. Nhưng nó đâu cần phải tiếp tục làm thêm cái việc mà huynh gọi là "nói ngay, nói thẳng" kia hoài? Thiếu gì chuyện tích cực khác mà cái trí có thể "nói ngay, nói thẳng", sao nó không chọn những điều tích cực để nói? Tsm đặt ra những câu hỏi này để chỉ ra cái mà tsm gọi là "hiểu cái tâm của chính mình", hiểu đây không phải để chỉ trích nó, cũng không phải để sửa chữa gì nó, mà là để vượt thoát khỏi sự vận hành âm thầm của nó. Huynh chỉ cần hỏi "nó" những câu hỏi như trên, huynh sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị về cái trí này.

Pháp nào cũng có người theo học, đó là nhân duyên của họ. Khi nào hết duyên thì họ sẽ bỏ hoặc tìm ra một giáo pháp khác thích hợp hơn. Cứ như thế, sớm muộn gì, trước sau gì thì cũng sẽ ... đến đích thôi.

Một điều nữa: Không cần thiết phải "tiêu diệt" kiến thức mà chỉ cần hóa giải cái năng lực và thói quen tự động của những kiến thức, những nghiệp thức đó trong chúng ta thôi. Thiền là buông bỏ, buông tất cả khái niệm, ý thức, rồi sau cùng buông luôn cái ... buông bỏ kia. (Nghĩa là sau cùng, không cần thiết phải buông gì hết! Nhưng khái niệm này chỉ có thể áp dụng cho một trạng thái đã đạt đến sự buông bỏ thâm sâu rồi cơ!)

Cầu chúc mọi người thành tựu viên mãn.
__________________
NATO
No Action, Talk Only

Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 7 người đã gửi lời cảm ơn đến NATO vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (15-02-2011), cheznous (14-02-2011), Manhattan (31-01-2013), niemtin2010 (23-04-2011), tuanvu_quynh1949 (14-02-2011), Udambara (15-02-2011), VoDanh (14-02-2011)
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Một tầm nhìn minh triết thien thu 2 Thư giản - Linh tinh 32 14-04-2011 4:17 am
Giải mã những bí ẩn của thiền định Luciola Thiền 0 23-12-2009 8:15 pm
Hiểu chữ Thiền và Tỉnh Thức theo tinh thần Minh Triết kthanhvan Thiền 3 26-11-2009 10:19 am
Tam linh thien dinh thatsonphutu Tâm linh 1 17-10-2009 10:10 pm
Giáo sư 82 tuổi truyền ngoại ngữ bằng Thiền tuanngan Thư giản - Linh tinh 1 10-03-2009 10:01 am

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles