UE Global
Translate this webpage (Google Translation):
    »
Choose your language:      

Chọn diễn đàn
Main Forums
English Forum
www.ue-global.com
Forum Français
French Forum
fr.ue-global.com
Diễn đàn Tiếng Việt
Vietnamese Forum
vn.ue-global.com
Русскоязычные форумы
Russian Forum
ru.ue-global.com
Foro en Español
Spanish Forum
es.ue-global.com

Chào mừng bạn đến với UE Global.
Go Back   UE Global > Diễn đàn Nhân Điện Tiếng Việt > Thiền

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Công cụ Xếp Bài
Sự yên lặng của Thiền định
Old 09-05-2009, 6:23 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default Sự yên lặng của Thiền định
Hôm nay đọc một bài viết hay trên báo Văn hóa Phật Giáo xin chia sẽ cùng ACE.
Sự yên lặng của thiền định
Một trong những mục đích của Thiền là làm phát lộ một tâm thức phẳng lặng và an bình(samatha)vậy dạng thể an bình và phẳng lặng của một tâm thức liên quan như thế nào với sự vận hành của lục căn?Tu Thiền hay Zen là phương pháp luyện tập giúp”tâm thức lắng xuống”hoặc nói một cách khác là”không suy nghỉ”xin hiểu không suy nghỉ trong trường hợp này là không để tâm thức bị chi phối bởi mọi thứ tư duy và xúc cãm liên tiếp lôi kéo nhau để sinh khởi và hiển hiện.Vậy,thể dạng”tâm thức lắng xuống”và “không suy nghỉ”chính là sự” yên lặng”.
Sự yên lặng của tâm thức theo Thiền tông là một thể dạng “nguyên thủy”hay “tinh khiết”trước khi bị khuấy động bởi tâm ý(ý đồ),bởi sự suy xét và các khái niệm,có nghĩa là mọi sự diễn đạt.Thể dạng tâm thức không bị khuấy động bởi bất cứ một sự diễn đạt nào là một thể dạng thật thăng bằng ,yên lặng và trong sáng.Thể dạng ấy biểu hiện cho “sự chặn đứng”quá trình lôi kéo sau đây:cãm nhận-diễn đạt-tư duy-xúc cảm-ý đồ-ngôn từ và hành vi duy ý.Sự yên lặng của một tâm thức không bị khấy động có thể thực hiện được nhờ “tư thế ngồi thiền” qua các cách tu tập khác nhau tùy theo các học phái.Ngồi im,chỉ còn lại sự chuyển động duy nhất của hơi thở,sẻ giúp cho tâm thức lắng xuống..
Ta thử lấy một thí dụ thực tiển như sau:.Ta đang ngồi im để Thiền định,đang quan sát sự vận hành của tâm thức,cố gắng theo dõi và làm lắng xuống mọi tư duy và xúc cảm.Nhưng bỗng nhiên có một người nào đó ngoài cửa hay phòng bên cạnh xì xầm,nói xấu hay bình phẫm không tốt về ta.Ta chú tâm lắng nghe,mặt ta có thể bừng bừng nóng và rất có thể ta sẽ đứng lên tìm người này để đối thoại,cải chính hoặc hơn thua.Hoặc khi đang ngồi Thiền,ta nghe hai người hàng xóm cải vã nhau trước sân nhà,càng lúc họ càng cải nhau hăng,văng ra những lời thô tục,có vẻ như sắp đánh nhau hay đâm chém nhau. .Trường hợp này tuy không liên quan gì đến ta,nhưng rất có thể ta cũng sẽ đứng lên để chạy ra xem.Tất cả những phản ứng trên dây,tức những hành vi duy ý,là do sự diễn đạt sinh ra.Âm thanh là làn sóng thuộc nguồn gốc bên ngòai kích động,nguồn gốc bên trong tức là tai(nhĩ căn),từ tai sinh ra tín hiệu truyền lên não bộ,não bộ tiếp nhận,phối kiễm đưa vào trí nhớ tức sự hiểu biết và kinh nghiệm nhị nguyên,công thức và quy ước tích lũy từ trước,não bộ(ý căn)diễn đạt mhững tín hiệu ấy thành tiếng nói và tiếng gây gỗ.Sự diễn đạt tiếp tục được đẩy xa hơn;tiếng nói là nói xấu ta ,tiếng gây gỗ cho thấy sắp đưa đến xung đột…..những diễn đạt ấy đưa đến xúc cãm:tức giận vì bị nói xấu,tò mò vì sắp được xem hai người chõang nhau.Những xúc cãm như tức giận ,tò mò chuyển thành hành vi duy ý làm cho ta bỏ tư thế ngồi Thiền và đứng bật dậy,Tại sao phải xác định rỏ ràng hành vi trên đây là một hành vi duy ý,vì chưng mọi hành vi duy ý sẽ tạo ra nghiệp,nghiệp(karma)có nghĩa là hành động.Có những hành vi không chủ tâm hay duy ý,chẵng hạn như tiêu hóa,ợ chua.khép mở mi mắt,duổi tay chân…những hành vi này gọi là trung hòa.Tuy gọi là trung hòa nhưng thật ra vẫn kích động để tạo ra nghiệp,nhưng nghiệp phát sinh thật nhỏ gần như không đáng kể.Tất cả mọi chuyển động đều sinh ra hậu quả…chỉ trừ có sự yên lặng tòan diện,một thể dạng bất bạo động tuyệt đối từ thân xác đến tâm thức,mới không làm phát sinh ra nghiệp mà thôi.
Vậy một người đang hành Thiền phải làm thế nào để tránh không bị ngoại cảnh kích động và đứng lên?Họ phái chặng đứng quá trình diễn đạt phát xuất từ ý căn.Ta không thể nào chặng đứng các làn sóng âm thanh,cũng không thể cấm cản tai tiếp nhận những làn sóng đó,cũng không thể ngăn chận não bộ tiếp nhận các tín hiệu.Ta có thể ứng dụng thí dụ này đối với các giác quan khác như thị giác,khứu giác v.v.Tóm lại sự vận hành của lục căn liên đới với ngoại cảnh vẫn giữ nguyên trong tình trạng vận hành bình thường,nhưng sự diễn đạt không xãy ra,người hành Thiền vẫn ý thức một cách minh bạch sự tiếp xúc của tâm thức với thế giới bên ngòai,nhưng xúc cãm và ý đồ không hiển hiện.
Khi đã ý thức và chủ động được lục căn,người hành Thiền có thể giữ cho tâm thức thăng bằng và phẳng lặng bất cứ trong hòan cảnh nào,trong khi sinh hoạt bình thường,tức không cần phải ngồi im.Người này có thể đang Làm việc,đang đi giữa chợ,ngoài đường phố,giữa sự ồn ào và biến động của ngoại cảnh,nhưng tâm thức vẫn yên lặng,thanh thản,giống như đang làm vịệc hay đang bước đi trong một cảnh giới thầt êm ả,thanh thóat,an bình và rạng rỡ.Cũng cần phải minh định là dạng thể ấy không phải là một dạng thể vô thức và tê liệt của giác cãm,trái lại là một dạng thể mở rộng và bén nhạy của lục căn,một trạng thái thật tỉnh thức,khác với tình trạng xao lãng,vô cãm,chẵng hạn như bị điếc,mù,hôn mê bất tỉnh..Hôn mê hay các giác quan bị tổn thương không ghi nhận được tín hiệu là một thể dạng của cái chết,không phải là sự yên lặng của một tâm linh tỉnh thức.
HOANG PHONG
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 8 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (09-09-2009), hoangmusic (29-10-2012), hung_btre (01-11-2012), kthanhvan (08-09-2009), nguyen van nhan (23-05-2009), tamnhat13 (09-08-2009), Udambara (09-09-2009), vannam (02-07-2013)
Các Phương Pháp Thiền Để Trở Về Tỉnh Thức
Old 08-09-2009, 9:54 pm  
kthanhvan
Senior Member
 

Default Các Phương Pháp Thiền Để Trở Về Tỉnh Thức
Người đang quan sát ý nghĩ đang diễn ra chính là mình và là tỉnh thức.

Trong sự quan sát đó, ta thấy rất rõ ràng không chứa không gian và thời gian, không chứa đựng quá khứ, hiên tại, tương lai và chỉ là một thực thể đang quan sát nên không thể đề cập tới thời gian và không gian được. Khi quan sát bất cứ ý nghĩ nào, quý vị cũng sẽ thấy rất rõ rằng, ý nghĩ có liên quan, dính líu đến không gian, thời gian, một con người cụ thể, hành động, cảm xúc, hoàn cảnh… đã diễn ra từ một giây trước ngay khi đang quan sát và thấy bất kì ý nghĩ nào hiện ra (từ một giây đã trôi qua so với khoảnh khắc đang quan sát là thuộc về quá khứ). Nghĩa là ý nghĩ dính líu và nhất định không thể không dính líu tới quá khứ. Từ đó ta thấy rằng, ý nghĩ luôn luôn liên kết với thời gian và không gian, còn sự quan sát chỉ là một trạng thái tỉnh thức quan sát, không hề liên quan đến không gian và thời gian. Trạng thái quan sát chỉ là một loại ánh sáng, ý nghĩ là một tín hiệu, dấu hiệu hay hiện tượng liên quan đến quá khứ.

Khi quan sát thật kĩ các ý nghĩ thì ta sẽ thấy giống như mình đang nói chuyện và có cảm xúc giận dỗi, ghen hờn, buồn vui… với người này, người kia và ngược lại. Quý vị có thể thấy trong ý nghĩ có một thế giới đầy đủ âm thanh, ánh sáng, cảm xúc liền nhau đã xảy ra rồi, trong đó có ý nghĩ tốt và không tốt, tiêu cực và tích cực… đủ kiểu chứ không thuần túy là ý nghĩ tốt hay xấu. Như vậy, công việc và mục đích của người quan sát là để cho tỉnh thức trỗi dậy chứ không phải để phê phán, đánh giá ý nghĩ tốt hay xấu. Vì vậy, trong quan sát không được phân tích, khen chê, đánh giá, lo sợ, chống lại, thù ghét… hay chạy theo ý nghĩ, quan sát chỉ là quan sát. Người chỉ quan sát thuần túy chính là trạng thái tỉnh thức và là mình thật.

Khi quan sát ý nghĩ, nếu chịu khó lắng nghe thì ta sẽ nghe được âm thanh của ý nghĩ. Như khi chúng ta xem trong phim có hai người gặp nhau và người này nghĩ tới người kia trong quá khứ cư xử tốt hay xấu với mình… cả một thế giới quá khứ hiện ra. Cho nên, khi quý vị quan sát ý nghĩ của mình thì sẽ thấy trong đó có âm thanh, ánh sáng, lịch sử hay một câu chuyện và nó dễ dàng lôi mình theo.

Bài thứ nhất là dùng hơi thở.

Cách thức này phổ biến nhất mà ngày xưa đức Phật từng dùng để tự trở về tỉnh thức, là pháp thiền căn bản nhất của Phật giáo hay là cách thiền căn bản nhất của đức Phật truyền dạy các đệ tử.

Đầu tiên, quý vị ngồi với tư thế ngay ngắn và thật thoải mái, xương sống thẳng, hai tay đặt lên hai đùi. Nên đặt đồng hồ báo chuông tương ứng với khoảng thời gian dự định ngồi thiền. Ban đầu, quý vị thở bình thường, tự nhiên với thời gian từ 3 đến 5 phút. Tiếp theo, quý vị đi vào trạng thái thở thật nhỏ, nhẹ, thở mà giống như không thở. Nghĩa là không ai nghe thấy mình thở, kể cả chính mình. Kế tiếp, quý vị kéo dài hơi thở một chút. Tiếp đến là bắt đầu đếm hơi thở. Một chu kì của hơi thở thì tính 1 lần và nửa chu kì của lần nào thì đếm số của lần đó. Tức là hít vào lần thứ nhất thì đếm 1 và thở ra lần thứ nhất cũng đếm 1, hít vào lần thứ hai thì đếm 2 và thở ra lần thứ 2 cũng đếm 2… cho đến 10 thì quay trở lại thực hiện đếm từ đầu.

Cứ tập mãi như vậy. Khi tập như thế, sẽ thấy ý nghĩ có thể xen vào làm quên số lần đã đếm. Nếu quên thì đếm lại từ đầu. Lúc nào không quên là ở trạng thái tỉnh thức tuyệt đối, còn quên là đã bị mất tỉnh thức. Phương pháp đếm hơi thở là căn bản nhất của thiền, không được xem thường và phải chịu khó thực hành. Thực hành thì sẽ thấy sự màu nhiệm của phương pháp này.

Bài thứ hai là quan sát hơi thở, một loại thiền khác về hơi thở.

Thiền quan sát hơi thở hoàn toàn khác với thiền đếm hơi thở. Về mặt từ ngữ chuyên môn thì quan sát hơi thở có thể gọi là thiền quán, nhưng không cần phải nhớ danh từ đó, chỉ biết quan sát thôi. Quan sát hơi thở nghĩa là biết rõ thở ra, thở vào và đường đi của hơi thở như thế nào. Giống như ta đang quan sát một dòng nước chảy trong không khí, chảy từ bên trong ra và từ ngoài vào thông qua hai lỗ mũi. Quý vị hình dung hơi thở giống như một dòng nước đang chảy từ trong thân ra và từ ngoài vào thân của quý vị thông qua lỗ mũi.

Bài thứ ba cũng về hơi thở là lắng nghe sự yên lặng của hơi thở, cùng thực hiện với hai cách trên.

Lắng nghe sự im lặng của hơi thở hoàn toàn khác với lắng nghe hơi thở. Phải nhận ra được sự yên lặng của hơi thở. Muốn vậy, phải đi từ chỗ đầu mối là, giữa nửa chu kì của hơi thở (giữa lần hít vào và thở ra) nhất định có một khoảng trống không có âm thanh và lắng nghe khoảng trống đó. Nghĩa là lắng nghe chỗ yên lặng không có âm thanh giữa lần hít vào và thở ra.

Từ sự lắng nghe chỗ yên lặng không có âm thanh đó, quý vị cố gắng quán tưởng đến điều căn bản là nền của hơi thở hay của tiếng ồn chính là sự yên lặng. Ồn ào được sinh ra từ nền tảng là sự yên lặng.

Có thể hình dung sự yên lặng là một thế giới tĩnh lặng tuyệt đối, bao la, rộng khắp, không giới hạn, còn sự ồn ào mọc lên như nấm từ nền của sự yên lặng. Cho nên, sự yên lặng chính là đời sống vô tướng, sự ồn ào là đời sống hữu tướng. Như vậy, rõ ràng đời sống hữu tướng hiện ra chính từ đời sống vô tướng. Đây là chỗ thầy giúp quý vị dần dần mở rộng sự khám phá!

Đầu tiên, quý vị thở tự nhiên và nghe có hơi thở. Tiếp đến, quý vị thở thật nhẹ để nghe không thấy hơi thở nữa. Cho đến khi quý vị lắng nghe toàn bộ sự im lặng tuyệt đối bên dưới hơi thở mà đầu mối là chỗ giữa lần hít vào và thở ra, để nghe khoảng cách trống của chỗ giữa lần hít vào và thở ra đó thì đấy chính là chỗ tuyệt đối im lặng. Từ khoảng cách tuyệt đối im lặng này, quý vị mở rộng tầm nghe ra thì sẽ nghe toàn bộ nền tảng của hơi thở, âm thanh thở là không có âm thanh.

Từ đó, quý vị sẽ khám phá dần dần thế giới vô tướng là thế giới tuyệt đối im lặng và không có biên giới. Toàn bộ tiếng ồn đều xuất hiện từ thế giới im lặng này, toàn bộ đời sống hữu tướng đều xuất hiện từ đời sống vô tướng. Nếu không có đời sống vô tướng thì không có đời sống hữu tướng, nếu không có thế giới im lặng thì không có tiếng ồn.

Mục đích duy nhất của ba bài thiền trên là làm cho sự tỉnh thức bùng dậy và hiện hữu.

Bài thứ tư là dùng ý nghĩ để thiền.


Cách này có hai tác dụng là điều khiển được cái đầu của mình và trực tiếp khơi dậy tỉnh thức. Bài này có các điểm cần chú ý sau. Ngồi im lặng, khép mắt lại. Thực hiện thiền hơi thở trong vòng từ 10- 15 phút rồi chấm dứt và chuyển sang thiền về ý nghĩ của mình. Ngồi im lặng, khép mắt lại và coi thử có ý nghĩ nào hiện ra không. Khi có ý nghĩ hiện ra thì quan sát và sẽ thấy trong đó có hình ảnh của mình và người khác thuộc về quá khứ. Ý nghĩ rất trừu tượng và chứa vô số hình ảnh về bản thân, một hay nhiều người khác. Ý nghĩ chỉ nhỏ như hoặc nhỏ hơn hay chỉ nhỏ bằng một phần nghìn lần hạt cải hoặc vô hình vô tướng mà chứa cả một thế giới gồm con người, cảnh vật, âm thanh… Quan sát ý nghĩ là quan sát hình ảnh. Qua sự quan sát hình ảnh đó, quý vị khám phá ra không gian và thời gian.Ngoài quan sát thì lắng nghe âm thanh trong ý nghĩ đó. Khi quan sát và lắng nghe thì con người thật chính là sự quan sát, lắng nghe.

Khi quý vị quan sát hình ảnh và lắng nghe âm thanh của ý nghĩ thì chắc chắn sẽ thấy và nghe được âm thanh của bản thân với đối tượng trong ý nghĩ. Ví dụ, Duy Đạo ra bờ sông ngồi khép mắt lại và quan sát suy nghĩ thì tự nhiên sẽ thấy ý nghĩ của mình nghĩ tới Tuệ Linh. Và chạy theo ý nghĩ đó thì thấy mình với Tuệ Linh cười khúc khích hay cãi với nhau... Tập như vậy tức là lúc ấy quý vị đã trở về trạng thái tỉnh thức tuyệt đối, thay vì chạy theo, đánh giá ý nghĩ về ai đó đang gợi lên trong đầu thì mình chỉ dừng lại để quan sát thôi. Nếu như ta không quan sát thì sẽ chạy theo và bị ý nghĩ dẫn tới một thế giới khác. Lúc này, ta sẽ không còn tỉnh thức nữa. Ngược lại, ta đã bị trở về trạng thái dưới trạng thái tỉnh thức là vô thức. Có nghĩa là ta sẽ sống trong mộng du, chạy theo hình ảnh trong ý nghĩ. Sau khi trải qua cơn mộng du thì bắt đầu tưởng tượng rồi nghi ngờ, buồn phiền, lo sợ, đề phòng, đối phó… Tức là, nếu không dừng lại để quan sát ý nghĩ thì ta sẽ chạy theo ý nghĩ và đi vào một cơn mộng du. Tỉnh lại sau cơn mộng du thì khi đó ta sẽ ở trong trạng thái hoặc là nghi ngờ, hoặc là tin tưởng… Rõ ràng là, khi quý vị đã bị cơn mộng du đẩy vào một tình thế khác, mà đa số là tình thế bất ổn trong tâm hồn, lúc ấy quý vị chỉ cần dừng lại để quan sát ý nghĩ, không chạy theo nó nữa thì quý vị sẽ trở lại trạng thái tỉnh thức, không đi vào cơn mộng du. Khi quý vị dùng ý nghĩ để thiền thì kết quả sẽ đưa quý vị trở về trạng thái tỉnh thức, đồng thời khống chế được ý nghĩ đang diễn ra trong đầu óc của quý vị.

Bài thứ năm cũng dùng ý nghĩ nhưng không lắng nghe và quan sát ý nghĩ, mà đếm ý nghĩ để biết được khoảng cách giữa các ý nghĩ.

Khi ý nghĩ thứ nhất chấm dứt, trước khi chuyển sang ý nghĩ thứ hai sẽ có một khoảng cách rất nhỏ. Thay vì ta chạy theo ý nghĩ thì ta để ý tới khoảng cách của các ý nghĩ và thấy ý nghĩ sẽ dừng lại. Khi đó, quý vị sẽ phát hiện ra khoảng cách giữa hai ý nghĩ và đó chính là trạng thái siêu tỉnh thức. Quan sát nhiều lần như vậy thì tự nhiên tiến vào trạng thái siêu tỉnh thức hay tỉnh thức tuyệt đối hoặc Phật tính. Khi đó, đương nhiên lợi ích vô cùng lớn như đã đề cập ở trên. Như vậy, trong phần dùng ý nghĩ để thiền, quý vị cần chú ý ba nội dung thực hành là quan sát, lắng nghe ý nghĩ và khám phá khoảng cách giữa hai ý nghĩ.

Bài thứ sáu là quan sát thiên nhiên, cảnh vật.

Quý vị có thể vào một khu rừng, đồi núi hay ra bờ sông, bãi biển để quan sát thiên nhiên. Quý vị lưu ý chỉ quan sát không thôi, không để ý nghĩ trong đầu mình khởi lên. Nếu ý nghĩ khởi lên thì ta biết ý nghĩ đang khởi lên và nhắc đi nhắc lại rằng, “ý nghĩ đang khởi lên” cho tới khi nó mất đi và mình trở lại sự quan sát.
Trong khung cảnh thiên nhiên, ngoài quan sát khung cảnh chung thì quý vị cần chọn quan sát tập trung vào đối tượng duy nhất như một bông hoa hay một thân, cành hay lá cây… Toàn bộ sự quan sát chỉ tập trung vào đối tượng duy nhất đó, không để sự quan sát tản mạn các nơi. Nghĩa là quý vị cần tập trung toàn bộ sự nhìn vào đối tượng duy nhất được chọn để quan sát mà không hề có ý kiến, suy nghĩ gì, chỉ biết trừng mắt nhìn không thôi, giống như đôi mắt của tổ Bồ Đề Đạt Ma được vẽ trong tranh vậy, không để bất cứ thứ gì chi phối sự nhìn đó.

Ngoài quan sát bằng mắt trong khung cảnh thiên nhiên thì quý vị tập trung lắng nghe. Đầu tiên, quý vị lắng nghe xem có bao nhiêu loại âm thanh trong khu vực đó, nếu nghe tiếng chim thì có bao nhiêu loại chim kêu? Nếu nghe tiếng người, tiếng gió hay tiếng động khác thì tiếng ấy như thế nào? Cố gắng lắng nghe đủ tất cả những âm thanh đang diễn ra cùng lúc trong khung cảnh thiên nhiên đó! Nghĩa là, trong khung cảnh thiên nhiên đó có bất cứ âm thanh nào thì quý vị đều lắng nghe hết, chỉ hoàn toàn lắng nghe mà không có bất cứ thành kiến, suy nghĩ gì, hoàn toàn lắng nghe với sự tập trung, chú ý hết sức. Sau đó, quý vị tập trung lắng nghe một loại âm thanh của một con chim. Khi đó, ta sẽ phát hiện, trong loạt âm thanh của một con chim đó có sự đứt quãng giữa hai tiếng kêu kế cận. Quý vị lợi dụng sự đứt quãng đó để lắng nghe sự yên lặng ở giữa hai tiếng kêu liền kề. Khi lắng nghe được sự yên lặng giữa hai tiếng hót của một con chim thì ta sẽ khám phá ra nền yên lặng của tiếng động. Khi đó ta thấy rõ rằng, toàn bộ nền yên lặng của bầu trời là nền tảng căn bản cho tất cả mọi âm thanh hiện hữu. Như vậy, một lần nữa, quý vị lại khám phá đời sống vô tướng của thiên nhiên.

Sau đó, quý vị ngồi xuống một chỗ, gộp lại để so sánh âm thanh và sự vô âm thanh trong đầu óc của mình, so sánh nền tảng yên lặng của sự ồn ào trong đầu óc với nền tảng yên lặng của tất mọi âm thanh của tạo hóa bên ngoài. Quý vị sẽ thấy được rằng, hai nền tảng yên lặng đó hoàn toàn là một, không hai. Từ đó chúng ta khám phá ra rằng, sự tĩnh lặng bên trong hay năng lượng tĩnh lặng của Phật tính với năng lượng tĩnh lặng của tạo hóa bên ngoài là hoàn toàn trùng nhau. Từ khám phá này, phát hiện ra sự ngăn cách năng lượng tĩnh lặng của Phật tính với năng lượng tĩnh lặng của tạo hóa bên ngoài là do suy nghĩ. Càng ngày càng đi sâu thì càng thấy rõ, suy nghĩ chính là hung thủ ngăn cách giữa sức mạnh bên trong và sức mạnh bên ngoài.

Kế tiếp, chúng ta sẽ phát hiện ra điều này là từ đây chúng ta có thể tập kết nối sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài. Khi kết nối được thì sức mạnh của một người không còn là sức mạnh của cá nhân nữa, mà là sức mạnh của tất cả các sức mạnh bên ngoài, tức là sức mạnh của vũ trụ. Đó chính là đời sống vô tướng. Và đời sống vô tướng bên trong với đời sống hữu tướng bên ngoài chính là một.

Đi sâu vào chỗ này được rồi thì sẽ thấy vô số trí tuệ, sự hiểu biết lạ lùng tuôn ra. Nếu quý vị luôn luôn tập sống trong trạng thái này có nghĩa là đi vào cuộc sống màu nhiệm.

Lợi Ích Của Thiền Và Tỉnh Thức

Khi quý vị đã vào cuộc sống màu nhiệm rồi thì quý vị sẽ không bao giờ phải để ý đến sự thất bại ở đời và tin tưởng rằng, sự thất bại ở đời không còn giá trị, không là gì nữa cả. Đồng thời, quý vị luôn luôn trụ được ở chỗ an toàn tuyệt đối. Lúc này, qúy vị mới thực sự là sống trong đức tin, thực sự sống cùng với chư Phật, Bồ Tát. Năng lượng của chư Phật, Bồ Tát và tất cả các đấng Giác Ngộ hay của cả vũ trụ với năng lượng của quý vị là một. Bấy giờ, sức mạnh đó của quý vị sẽ chiêu cảm những vấn đề thuộc về hữu tướng rất nhiệm màu, thế giới hữu tướng được chiêu cảm bởi nguồn năng lượng đó. Do vậy, con đường thiền này là con đường để thâm nhập vào thế giới, đời sống tĩnh lặng. Đời sống tĩnh lặng của cá nhân tuôn ra, hòa chung là một với đời sống tĩnh lặng bên ngoài. Từ chỗ này, nhiều chuyện lạ sẽ xảy ra trong cuộc sống, trí tuệ ứng xử biện tài sẽ tuôn ra, tất cả các phẩm chất hay những gì thuộc tích cực trong con người như kiên nhẫn, chịu khó, hòa đồng, nhã nhặn, thương người… đều hiện ra. Và tất những gì thuộc tiêu cực sẽ như nóng nảy, hờn ghen, ích kỉ, hẹp hòi… dần dần sẽ biến mất hết. Đó là lợi ích của việc quý vị dùng thiền để khám phá ánh sáng trắng, Phật tính hay con người thật của quý vị.

Tiếp đến là làm việc trong trạng thái thiền. Trạng thái thiền là sự bình tĩnh, tĩnh lặng, trạng thái luôn ổn định, không thay đổi. Mỗi trạng thái kiên nhẫn, bình đẳng, tỉnh thức, siêng năng, cởi mở, kiểm soát đầu óc, kiểm soát cảm xúc, nhìn vấn đề không bị chi phối là một trạng thái của thiền. Ví dụ, một người với cương vị giám đốc, luôn trong trạng thái thiền để điều hành công ty thì nhất định sẽ chính xác, không bao giờ để lại hậu quả. Nếu họ có cái nhìn thiên vị, là người không kiên nhẫn, mất tỉnh thức, mãi cứ chạy theo ý nghĩ thì không thể nào điều hành công ty được, không thể giữ sản nghiệp được. Như vậy, nếu muốn sự nghiệp vững vàng, cuộc sống hạnh phúc thì vị giám đốc buộc phải điều hành công ty trong trạng thái thiền, tức là trạng thái hết sức tỉnh thức.

Những điểm thầy giảng có tính chất của thiền, quý vị phải nhớ rõ để áp dụng trong công việc và ứng xử hàng ngày. Ví dụ, lời nói trong trạng thái thiền là lời nói không phải xuất phát từ cá nhân, từ suy nghĩ của mình mà xuất phát từ một tình trạng, quy luật, thực tế khách quan, từ nguyện vọng của người khác. Nhìn trong trạng thái thiền là nhìn mà giải thoát, không định kiến, vướng mắc, thành kiến, không gán cho người khác cái này hoặc cái kia. Khi quý vị tập cư xử trong thiền như vậy, đừng nghĩ như thế là mâu thuẫn với quyền lợi của mình. Không hề có mâu thuẫn gì cả, vì hoạt động trong thiền là hoạt động đúng quy luật phát triển! Như vậy, tự nhiên công việc của chúng ta sẽ có hiệu quả và đem lại trí tuệ rất sáng suốt, thông minh. Người vừa bình tĩnh, vừa kiên nhẫn, siêng năng, tỉnh táo, công bằng, tỉnh thức chính là người làm mọi công việc hết sức vững vàng.

Còn người dễ có cảm xúc, sớm nắng chiều mưa, thiếu kiên nhẫn, định kiến, thành kiến, đánh giá người này người kia, làm theo ý nghĩ riêng của mình thì nhất định trước sau cũng phá sản, dù tài sản lớn tới bao nhiêu đi chăng nữa. Giả sử người này may mắn trúng số cả trăm triệu đô la thì trước sau gì đó cũng chính là nhà tù hay địa ngục sẽ chôn vùi cuộc đời của họ, đừng vội mừng. Bởi vì, nếu không ở được trong trạng thái đặc biệt của tâm hồn thì nhất định phúc sẽ biến thành họa, không bao giờ có phúc là phúc mãi. Nhưng người ở trong trạng thái thiền thì chỉ có phúc, không có họa.

Như vậy, học và thực hành sống trong thiền được là rất có lợi cho công việc, đời sống gia đình và ứng xử, giao tiếp với xã hội, tăng trưởng trí thông minh. Một trong các ưu điểm mà quý vị sẽ thấy rõ là càng ngày mình càng thông minh, ứng xử rất nhanh chóng và chính xác, càng ngày càng bớt sự thù hận, bất bình giữa mình với người.

ĐSDT-
__________________
|---->?<---->??<---->??? ... <----|
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 8 người đã gửi lời cảm ơn đến kthanhvan vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (09-09-2009), hoangmusic (29-10-2012), hung_btre (01-11-2012), ltduy001 (14-11-2012), tamnhat13 (09-09-2009), thien thu 2 (10-09-2009), tuanvu_quynh1949 (09-09-2009), Udambara (09-09-2009)
Old 08-09-2012, 9:38 pm  
tuanvu_quynh1949
Senior Member
 
tuanvu_quynh1949's Avatar
 

Default
THIỀN LÀ GÌ ?

Thiền trong tiếng Anh, tùy theo ngữ cảnh, có thể được dịch như một danh từ: meditation, contemplation, concentration, abstraction, trance…hoặc như một động từ: to meditate, to comtemplate, to think of, to imagine, to call to mind, to recollect…Tuy nhiên tất cả các từ này đều chỉ đúng theo từng ngữ cảnh riêng biệt mà thôi, có nghĩa là không được đúng theo ý nghĩa tổng quát nhất. “Định” trong tiếng Anh phổ thông được dịch là “concentration”, âm Pali được Latin hóa là “Samadhi” hoặc “samatha” Quán trong tiếng Anh được dịch là “contemplation”. Từ “Tuệ quán” của Đạo Phật Nguyên Thủy được dịch theo âm Pali Latin hóa là “Vipassana”. Có trường hợp vì không biết đến các phái thiền khác nhau, nên nhiều người vẫn liên tưởng thiền chỉ là Zen! Ở Việt Nam hay các quốc gia có Đạo Phật, nói đến “thiền” thì đa số người đều liên tưởng đến phương pháp hành trì của Phật giáo. Tuy nhiên, ở Ấn Độ nói đến “thiền” thì người ta lại liên tưởng đến Bà La Môn giáo hoặc các tôn giáo khác cùng ở khu vực này. Ngay trong Phật giáo, chữ “thiền” cũng được dịch từ những chữ có nội dung khác biệt!

- Thiền, trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy, viết bằng tiếng Pali là bhavana dùng để chỉ những pháp thực hành nhằm rèn luyện tâm. Nói chung, Phật giáo nguyên thủy có ba pháp thực hành thiền: Thiền Chánh niệm (satibhavana), thiền định (samathabhavana) và tuệ quán (vipassanabhavana).

- Định, trong Phật giáo nguyên Thủy gọi bằng tiếng Pali là Jhana. Trong kinh điển Phật giáo phát triển, tức Phật giáo đại thừa, Định được gọi bằng tiếng Sanskrit là dhyana . Khái niệm “Thiền” của Phật giáo đại thừa bị thay đổi theo từng quan niệm khác nhau của các tông phái khác nhau. Vì khi phát triển thành Phật giáo Đại thừa người ta sử dụng các phương pháp thiền rất khác biệt với nhau và các phương pháp đó nhiều khi chẳng còn mối liên hệ nào với pháp thiền mà Đức Phật Gautama đã từng thực hành và giảng dạy. Giữa thập đại tông phái của Đại thừa, khó xác định được tông phái nào có xử dụng hoặc không xử dụng loại thiền nào! Tuy nhiên, còn nhiều phương pháp thiền khác, cũng được dùng trong Yoga hoặc các phái Bà La Môn, trong Lão giáo…

Vậy chữ Thiền chỉ là một từ gọi “chung chung” của rất nhiều các nội dung rất khác biệt. Với kiến thức phổ thông, thiền cũng thường được hiểu như phương pháp thư dãn, chống stress, cân bằng đầu óc, giữ gìn sức khỏe v.v….Chỉ với kiến thức thật chuyên môn thì ta mới có thể phân biệt giữa thiền của Đức Phật Gautama tức thiền nguyên thủy, với thiền của Phật giáo phát triển, thiền của Thiền tông, thiền của Kim cương thừa (Mật tông Phật giáo), thiền của Yoga, thiền của các phái Bà La Môn khác hay thiền của đạo Lão v.v…
Thiền là gì?

Bởi vì thiền là phương pháp của nhiều tôn giáo và pháp môn hoàn toàn khác biệt, nên câu hỏi “thiền là gì?” quả là một câu hỏi không được rõ ràng và vì thế chưa thể có câu trả lời chính xác. Nhưng đối với đa số những người sơ tâm, đó lại là một câu hỏi luôn được đặt ra với nhiều trăn trở. Bài viết này là một cố gắng để trả lời một câu hỏi rất “mơ hồ”, nhưng rất thường được đặt ra! Và bài viết này coi Thiền là một từ chung mà ta thường gặp, nghĩa là phạm trù của nó, không thuộc về riêng của một tôn giáo hay tông phái nào cả.

Google mệnh đề ‘Thiền là gì?” cho ra những trang kết quả tiếng Việt với quá nhiều các câu trả lời khác biệt. Mỗi người đứng ở những pháp môn khác nhau, ở những góc độ khác nhau, cho nên những câu trả lời cũng khác nhau. Sau đây là một số câu trả lời tìm thấy ngẫu nhiên trên Internet ngay trong thời điểm viết bài này, tôi để links dẫn như một bằng chứng cho việc giải thích rất khác biệt về một chữ “Thiền”!

Thiền theo trang Yoga VN: Theo thuật ngữ Yoga, Thiền được gọi là “Dhyana” nghiã là “dòng chảy của tâm trí”. Đây là một trạng thái tinh khiết và tập trung cao độ khi tâm trí xuôi chảy không gì ngăn trở, hoàn toàn đắm mình trong ý nghĩ về Ý Thức Vũ Trụ.

Thiền theo trang Answers.Yahoo.vn : Thiền định có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại. Ngoài tác dụng thư giãn, nó còn giúp phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng chức năng cơ thể.

Thiền của Wiki tiếng Việt: Tất cả các trào lưu triết học Ấn Độ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là là Tĩnh lự (zh. 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na (zh. 馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Đây là một thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”…

Search ngẫu nhiên trên Google ta thấy:

Thiền theo một sư cô: Thiền là gì? Thiền là trạng thái tâm vắng lặng trước sự vật, hiện tượng xảy ra trước mặt hay xung quanh ta….

Thiền theo một hòa thượng: Một câu hỏi khó giải đáp, vì Thiền phủ nhận tất cả, vì bản chất của Thiền vượt ngoài định nghĩa và giải thích, không có ngôn ngữ và văn tự, lời dạy đặc biệt ngoài kinh điển, hay “biệt truyền ngoài giáo điển”, chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật “trực chỉ minh tâm, kiến tánh thành Phật”.

Thiền theo Krisnamurti: Thiền không phải là phương tiện. Nó là cả hai: phương tiện và cứu cánh. Thiền là một điều phi thường. Nếu có bất cứ một sự bắt buộc, cố gắng bắt tư tưởng phải tuân thủ, bắt chước, thì Thiền sẽ là một gánh nặng·

Thiền theo Osho: Vậy Thiền không phải là chống lại hành động. Bạn không cần phải thoát ly ra khỏi cuộc sống. Nó đơn thuần dạy bạn một cách sống mới: Bạn trở thành trung tâm của cơn xoáy lốc. Cuộc sống của bạn cứ tiếp diễn, nó cứ ngày một mạnh mẽ thêm, với nhiều niềm vui sướng hơn, với nhiều sáng tỏ hơn, nhiều cái nhìn hơn, nhiều sáng tạo hơn, mà bạn thì vẫn đứng xa, chỉ là một người quan sát trên đồi, đơn thuần thấy tất cả những điều đang xảy ra quanh bạn.

Các câu trả lời vừa liệt kê ở trên, cho thấy có rất nhiều kiểu trả lời với những nội dung rất khác biệt. Vì thế, vấn đề quả thực rất không đơn giản. Câu hỏi thiền là gì? Luôn là nỗi bức xúc cho một người sơ tâm mới bước vào thiền. Vô số sách về Yoga và Thiền định đã được xuất bản, và hiện nay có thêm cả Internet, một khối tư liệu thật phong phú của toàn thế giới. Nhưng nếu không khéo, càng đọc càng lẫn lộn! Chỉ có người thực sự có thể nghiệm về thiền mới có thể viết hoặc dịch những tài liệu về thiền một cách đúng đắn và chính xác. Nếu người viết hoặc dich sách hoàn toàn không có kinh nghiệm thực hành, thì bạn sẽ nhận thấy ngay rằng cuốn sách luôn có biểu hiện rối rắm khó hiểu. Sự khó hiểu ít khi ở bản chất vấn đề, mà chính ở tại người giải thích. Tôi không tin nhiều lắm ở luận điệu cho rằng nội dung thiền là không thể diễn đạt, bất khả tư nghì. Tôi nhớ có đọc rất nhiều luận điệu kiểu “thiền thì không thể diễn đạt”, “Đi đứng nằm ngồi cũng là thiền !” hoặc “Thiền là nhướng mày chớp mắt”. Hiện tại, trên đa số sách báo, ta luôn gặp những lời giải thích đầy “phong cách thiền” đại loại giống như vậy. Một thiền sư có thể nghiệm thiền đầy đủ thì dù có dùng lời lẽ bình dị mộc mạc thì người nghe vẫn hiểu, vẫn thấy nó là ngôn ngữ trí huệ. Một người không có thể nghiệm hoặc thể nghiệm quá ít, dù có xử dụng ngôn ngữ uyên thâm trác tuyệt, thì trước sau cũng chỉ là loại “ngôn ngữ nhái” rỗng tuếch. Cũng phải biết rằng, Đức Phật trong lúc giảng dạy, ngài không dùng thứ ngôn ngữ bác học lúc bấy giờ, mà dùng ngôn ngữ bình dị của giới dân giả đó là tiếng Pali. Phải biết rằng những trải nghiệm thiền (Định và Quán), đã từng được mô tả tương đối rõ ràng trong kinh điển Phật giáo. Không hiểu sao, qua một thời gian dài “phát triển”, thế hệ sau lại tránh né những mô tả cần thiết này của Đức Phật. Tôi để chữ “phát triển” trong ngoặc như một nỗi băn khoăn!

Trên sách báo chữ “Thiền” được sử dụng rất rộng rãi, vì thế nếu không so sánh nó trong ngữ cảnh riêng biệt thì dễ lẫn lộn. “Thiền” cũng là động tác quan sát theo dõi các đối tượng về thân hay tâm: Ví dụ: “Thiền Chánh niệm”, “Thiền quán” tức Vipassana còn “thiền định” là sự tập trung duy nhất trên một đối tượng. Đối với thiền Phật giáo, nên tránh dùng chữ “thiền” chung chung, mà nên phân biệt “thiền chánh niệm”, “thiền-định” hay “thiền-quán” để thật rõ nghĩa.. “Thiền” cũng được dùng như là một danh từ. Trong một số các tài liệu, “thiền” có thể được dùng để chỉ một trạng thái. Ví dụ, trạng thái của thiền định của Thiền nguyên thủy bao gồm tám trạng thái của bốn định hữu sắc và bốn định vô sắc. Danh từ “Thiền” trong ngôn ngữ bình thường có thể ám chỉ một kĩ thuật hay phương pháp. Ví dụ: thiền định chỉ, thiền quán chiếu, thiền tĩnh, thiền động, Như lai thiền, Tổ sư thiền v.v… Có người (ví dụ Krisnamurti) nói rằng thiền không cần đến phương pháp và kĩ thuật, vì phương pháp hay kĩ thuật vận dụng đến đầu óc (mind), cho nên chỉ làm chướng ngại việc nhập thiền. Điều đó đúng! Nhưng Osho phân tích rằng, trước khi đi đến trạng thái thiền, đầu óc có quá nhiều chướng ngại (năm triền cái, the five hidrances), nên cần phải có kĩ thuật để vượt những chướng ngại này. Phương pháp hay kĩ thuật là để chuẩn bị cho giai đoạn trước thiền. Bây giờ tài liệu trên Internet về kinh luận của PG Nguyên thủy, PG Đại thừa, Mật tông, Thiền tông, Yoga v.v…quá đầy đủ, cho nên việc tìm hiểu và so sánh giữa các loại “Thiền” có phần dễ dàng hơn. Câu hỏi Thiền là gì phải được trả lời tùy theo nội dung mà nó muốn ám chỉ. Nghĩa là câu trả lời phải tùy theo từng tôn giáo hoặc pháp môn. Xin liệt kê sau đây một số nội dung chính:
Thiền của Đạo Phật nguyên thủy

Gồm có ba kỹ thuật chính là Thiền Chánh Niệm( satibhavana), Thiền Định (samathabhavana) và Thiền Tuệ Quán (vipassanabhavana). Đối với Đạo Phật nguyên thủy, khi nói đến thiền nhất thiết phải phân biệt đó là Thiền Chánh Niệm, Thiền Định hay Tuệ Quán.

- Thiền Chánh Niệm là phương pháp giữ Niệm (sati) trên bốn lãnh vực, gồm thân thể, cảm giác, tâm và đối tượng của tâm (tứ niệm xứ)

- Thiền định còn gọi là Định hay Tịnh chỉ, là pháp an trú tâm trên một đối tượng. Thường các nhà sư dung hơi thở là đối tượng để an trú tâm.

- Tuệ quán là công phu quán sát các đối tượng, hiện tượng đang hiện hữu, diễn biến, xảy ra trong thân và tâm với mục đích để nhìn thấy tính duyên hợp, vô thường và vô ngã của chúng. Mục đích của Tuệ quán là tạo ra các tuệ cần thiết cho sự giác ngộ các quả thánh.

Cần nên biết: Thiền định của Phật giáo nguyên thủy đưa đến bốn bậc thiền hữu sắc là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, và bốn bậc thiền vô sắc là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những thiền định nói trên mặc dù có nguồn gốc trước Đạo Phật và không đưa đến bốn đạo quả, nhưng vẫn là kĩ thuật luyện tâm song song với pháp thiền quán. Pháp Tuệ Quán được coi là một sáng tạo riêng của Đức Phật. Việc thực hành Tuệ quán cần sử dụng năng lực của định (samadhi) để nhìn thấy rõ các pháp chân đế (paramattha) như chúng thực sự là, cho nên công phu thiền định là một lợi thế cho thực hành thiền tuệ quán. Theo một vài luận giải của Phật Giáo Nguyên Thủy thì Thiền Định (Samadhi) là một công cụ cần thiết không thể thiếu để thực hành thành công Tuệ Quán (Vipassana).
Thiền của Phật giáo đại thừa (còn gọi là Phật Giáo phát triển)

Khi Đạo Phật không còn nguyên thủy và “phát triển” thành Đại thừa, thiền cũng thay đổi và biến tướng khác đi. Samadhi của Phật Giáo Đại Thừa có nhiều loại, mỗi loại có một lợi ích riêng và mỗi loại đều có một tên gọi rất là dài. Trong Mahavyutpattit (Phiên dịch Danh Nghĩa Đại tâp) chương 21 có liệt kê 118 loại Định (samadhi). Sự “phát triển” của Phật Giáo đã biến đổi một pháp thiền định duy nhất (Jhana) được mô tả trong kinh điển nguyên thủy (suttas) thành vô số các loại định, rồi thậm chí thành những loại “giống như “chánh niệm”, đó là “niệm Phật” hoặc “niệm chú”. Thậm chí có những thày tu không còn nhắc nhở đến những pháp thiền định hay thiền quán nữa. Như vậy, từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật giáo đại thừa, Thiền đã có sự thay đổi hình thức và bản chất rất lớn. Chẳng hạn pháp thiền Lục Diệu pháp môn của Trí Khải (Đại thừa Trung Quốc) không có nội dung từ các bộ Nikaya, mà lại thấm đậm hương vị Lão giáo. Từ “Thiền của Phật giáo đại thừa” đến “Thiền của Thiền tông” lại thêm một thay đổi nội dung lớn hơn nữa. Mặc dù tự nhận là một phát triển của Phật giáo Đại thừa nhưng Thiền Tông Trung Quốc (Thiền Đông Độ) có một sắc thái rất đặc thù Trung Quốc. Rất tiếc những tu sĩ Trung Quốc thời xưa đã không thừa nhận loại Thiền (Chan, Zen) đây là một đỉnh cao trí tuệ riêng biệt của văn hóa Trung Quốc, để không bị các học giả hiện nay cho rằng nó chỉ là một nhánh thiền ngụy tạo của Đạo Phật!
Thiền của Thiền tông Trung Quốc hay Zen của Nhật Bản

Rất nhiều sách, bài viết, uyên bác cao siêu giải thích về phương pháp thiền của thiền tông. Tuy nhiên, tất cả đều làm cho người đọc, khó hình dung được thực sự bản chất thiền của Thiền tông là gì! Người sơ tâm chẳng nên đi thẳng vào sách thiền của Thiền tông, một môn phái đặc thù và khác biệt so với đạo Phật truyền thống. Lý do là chữ “Thiền” của thiền tông mang nội dung gần như là xa lạ với chữ “Thiền” của các tông phái khác. Cũng nên biết rằng, khi một nhánh Phật giáo đại thừa phát triển thành Thiền tông Trung quốc, thì chữ thiền (Dhyana) của Đại thừa lại một lần nữa thay đổi với một nội dung khác. Thiền của thiền tông không phải là thiền định, cũng không phải là thiền quán, không phải là jhana hay dhyana, thiền của Thiền tông cũng không hẳn là tọa thiền. Thiền của Thiền tông được cho là nhắm vào mục đích kiến tánh để đốn ngộ, cho nên phương pháp của nó là một đặc thù. Đây có thể là “quán công án” hoặc “khán thoại đầu”, cho nên nó có thể thực hiện ở bất cứ tư thế nào, hay ở bất cứ nơi đâu. Đây có thể là thủ pháp đánh và hét, mục đính làm cho người đệ tử bất ngờ hốt hoảng rơi vào trạng thái “mất hồn” đưa đến tình trạng vô ngã tạm thời. Đây có thể là cách quan sát sự vật của thế giới hiện tượng mà tránh để trí óc định danh các sự vật. Mục đích trong các phương pháp của Thiền tông là nhằm phá hủy các khái niệm và ngôn ngữ hình thức, vốn được cho rằng không thể chuyên chở được nội dung của thực tại, trái lại còn bóp méo thực tại tuyệt đối. Truyền thống này khiến ngôn ngữ của Thiền tông thường khó hiểu và lập dị đối với lí trí bình thường. Một khuynh hướng Thiền Trung Quốc nhấn mạnh vào khái niệm “sống trong hiện” tại đang được phổ biến nhiều ở Tây phương bởi các Đạo sư như Krisnamurti, Eckhart Toll, Osho…tuy nhiên các Đạo sư không đưa ra một phương pháp rõ ràng nào để thực việc “sống trong hiện tại” này cả (dường như các đạo sư tin rằng chỉ cần dùng “ý chí cá nhân” là có thể sống trong hiện tại được!)
Thiền của Yoga và các giáo phái Bà La Môn khác

- Yoga: Đạo Phật xuất phát từ minh triết của Ấn độ. Thiền Định trong đạo Phật cũng đã bắt nguồn từ Yoga. Thời đó Yoga là một trong sáu phái triết học nổi tiếng của Ấn độ. Yoga có những tông phái thực hành thiền để đạt cứu cánh giải thoát (Giải thoát theo quan điểm Hindouism). Pantajali là người có công biên tập tất cả tài liệu về Yoga trong giai đoạn từ thế kỉ thứ 05 đến thế kỉ thứ 03 trước công nguyên. Bây giờ khi nói đến thiền, cũng có rất nhiều người liên tưởng đến những phương pháp Yoga. Ngoài yoga rèn luyện khí lực và cơ thể vật chất là Hatha yoga, còn có Yoga luyện tâm, đó là Rahja yoga. Rahja yoga quan niệm Vật chất không thể tách rời Ý thức hay ngược lại. Tâm và Vật là một thực tại thống nhất, không thể tách rời. Sự tiến hóa của tâm tất yếu phải đi liền với sự thay đổi khí lực tức năng lượng cơ thể và ngược lại. Từ Rajha yoga phát sinh rất nhiều kĩ thuật Yoga khác như: Kundalini yoga, Transcendental yoga, Kriya yoga v.v…Tất cả những phương pháp này có thể gọi là thiền của yoga.

- Pháp Luân Công : một phong trào đang khởi dậy tại Trung Quốc cũng là một loại Thiền dựa trên sự luyện tập để phát triển Khí lực bên trong.

- Surat Shab yoga tức San Mat, một giáo phái bí mật (esoteric) thuộc về Đạo Sikhism đang trở thành “hiện tượng” trong cộng đồng người Việt trong ba thập niên trở lại đây . – Phong trào San Mat tại Việt Nam được phổ biến bởi Thanh Hải Vô Thượng sư (một phụ nữ Việt) còn gọi là master Ching Hai. Cũng giống như một số trừơng phái Thiền khác, không hiểu sao Surat shab Yoga khi xuất hiện tại Việt Nam lại cố nhận mình là Đạo Phật! Giống như tất cả các loại thiền khác, Thiền Thanh Hải (pháp môn Quán Âm) chưa bao giờ phân biệt pháp của mình là thiền định hay thiền quán. Thiền Thanh Hải cũng chưa bao giờ biết về các dấu hiệu hay chuẩn mực của sự đắc thiền. Thiền Thanh Hải, cũng giống như các giáo phái Bà La Môn khác, coi sự chứng đắc “thiền định” cũng là cứu cánh cuối cùng
Thiền của Kim Cương thừa (Mật tông Phật giáo)

Mật tông Phật giáo bắt đầu ở Ấn độ, nhưng lại chỉ phát triển ở Tây Tạng, nên nói đến Mật tông Phật giáo là nói đến Mật tông Tây Tạng. Mật tông Tây Tạng chú trọng đến thiến quán hơn thiền định (có thể tham khảo cuốn Giải thoát trong lòng bàn tay của Papongka do sư cô Trí Hải dịch). Thiền của Mật tông hiển nhiên được phát triển trên nền minh triết của Yoga hình thành trước đó. Mật tông dùng thiền quán đối với Chơn ngôn (darani), Mandala, Linh phù (yantra), các vị hóa thần (Yidam). Một trong những đối tượng quán của thiền Mật tông là Kundalini. Có lẽ Kundalini yoga là của Yoga Ấn giáo hơn là của Mật tông Phật giáo! Mật tông dùng thiền quán về luồng hỏa xà Kundalini (tummo) làm một trong những phương tiện để chuyển hóa tâm thức. Sáu pháp của Naropa, đạo sư Mật tông, được gọi là sáu yogas (six yogas of Naropa). Đến đây, ta thấy được mối quan hệ sâu sắc giữa Mật Tông với Yoga, đồng thời cũng thấy rõ sự khác biệt giữa thiền của Mật Tông và các loại thiền của Đạo Phật nguyên thủy . Ta cũng thấy rằng thiền chỉ là phương tiện của nhiều con đường khác biệt nhau.
Thiền của Lão giáo

Còn gọi là thiền của Đạo gia, hoặc cũng có khi gọi thẳng là Đạo gia khí công. Vì sao lại có thể gọi thiền là khí công? Vì bản chất của khí công cũng là thiền quán trên một đối tượng cơ thể, đó là luồng khí lực. Thiền của Lão giáo nhắm vào khai thông các kinh huyệt chính như Nhâm và Đốc, khai thông luồng hỏa hầu… Công phu thiền của Lão giáo đưa đến khai mở Huyền quan khiếu, thành tựu thánh thai… Ta thấy có sự tương đồng trùng khít giữa thiền của Lão giáo với thiền của Yoga hay thiền của Mật tông, trên một nguyên lý: Chuyển đổi của tâm phải bắt đầu bằng sự chuyển đổi khí lực của cơ thể. Dĩ nhiên đây không phải là chủ nghĩa duy vật mà chỉ là duy “Một”. Cái Một không thể tách rời thành hai “tâm” và “vật”.
Thiền là phương tiện thực hành của nhiều tôn giáo khác.

Thiền không hẳn là của riêng Thiền tông (Chan, Zen) hoặc của riêng đạo Phật hay Ấn giáo. Nhóm tôn giáo xuất phát từ Cựu ước như Do Thái giáo, Hồi Giáo, Thiên chúa giáo hay nói tới từ “Mặc Khải”. Mặc khải (revelation) cũng chính là Thiền (meditation). Kinh Khải Huyền (Apocalypse) mô tả những cõi giới hoàn toàn tương ứng vơí một tam muội. Thánh Jean de la Croix cũng mô tả thể nghiệm tâm linh trong một cuốn sách của ngài (Ascension of Mount Carmel) giống như một hành giả thiền. Như vậy thiền cũng tồn tại trong khu vực của các tôn giáo Do thái, Hồi và Thiên Chúa, như một phương pháp tiếp cận Thượng Đế. Thiền là phương pháp thực hành tâm linh rất phổ quát. Cho nên một định nghĩa thiền hay một giải thích về thiền càng mang tính phổ quát càng dễ được cộng đồng tiếp thu. Dù có khác biệt về phương pháp và nội dung qua thời gian và khu vực văn hóa địa lý, nhưng mục đích của thiền thì không đổi. Để hiểu rõ thêm Thiền (meditation) là gì? Bạn có thể đặt thêm câu hỏi:
Thiền không phải là gì?
Thiền không hẳn là “Trong không vọng ngoài không động”

Bên trong, tâm không vọng. Nhưng bên ngoài thì thân vẫn có thể động. Có rất nhiều loại thiền “động” như thiền hành, thiền quay tròn, thiền với những động tác đặc biệt (để khích động Kundalini chẳng hạn…). Osho trình bày nhiều về các loại thiền động (dynamic meditation). Thiền sinh có thể được dẫn đến trạng thái nhập thiền khi nhún nhảy hoặc lắc mạnh cơ thể theo nhịp điệu hoặc âm nhạc! Khi các bộ lạc nhảy múa hoặc các đồng cốt đong đưa cơ thể thì có lẽ tác dụng và hiệu ứng cũng nằm trong nguyên lý thiền động này. Vipassana là phương pháp quay vào trong quán sát Sắc (vật chât), Danh (tâm), Tứ Diệu Đế, Thập nhị nhân duyên v.v… nhằm mục đích tạo ra Tuệ giải thoát. Vipassana, là phương pháp thiền quán của đạo phật nguyên thủy. Đối tượng quán của Vipassana là cơ thể vật chất, ý thức và cảm xúc, xảy ra trong cơ thể hành giả. Ngoài tư thế ngồi, Thiền Vipassana có thể thực hiện trong tất cả các tư thế (tứ oai nghi)! Thiền động là một khái niệm không thể phủ nhận. Dù khó có thể đi vào một định sâu, nhưng thiến động hình như rất có lợi cho người sơ tâm, muốn biết hương vị đầu tiên của thiền là gì! Không quên rằng: Thiền hành (đi chậm rãi trong thiền Chánh Niệm) là phương pháp phổ biến trong thời Đức Phật, vẫn đang tiếp tục được thực hành trong Đạo Phật Nguyên Thủy.
Thiền không phải chỉ là ngồi thiền

Đúng vậy, chỉ có Thiền Định (Samatha) là cần nhiều ở tư thế ngồi. Còn Thiền Chánh Niệm, Tuệ quán (Vipassana) thì không nhất thiết phải ngồi, trái lại còn được khuyến khích nên thực hiện trong cả tứ oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi). Người thực hành có thể thể thiền trong cả bốn oai nghi đi, đứng, nằm ngồi, hoặc làm những động tác đặc biệt khác. Đặc biệt với Thiền tông (Thiền công án hoặc khán thoại đầu), thiền sinh có thể tham công án hoặc khán thoại đầu trong bất cứ hoàn cảnh hoặc tư thế nào. Thiền tông Trung quốc, với khẩu quyết “kiến tánh thành Phật”, cho nên thiền là làm thế nào để kiến tánh, chứ không phải gò ép trong tư thế ngồi! Theo quan điểm này, ngồi cũng được mà không ngồi cũng được. Thậm chí trong giai thoại Thiền tông, có một vị thiền sư “đắc đạo” trách một vị thiền sư thường ngồi nhưng chưa “đắc đạo”: Tại sao lúc sống cứ ngồi không nằm rồi lúc chết lại cứ nằm không ngồi! Các Thiền sư hay nói bóng gió “đi đứng nằm ngồi cũng là thiền”. Cách nói này gây ra hiểu lầm tai hại. Nhiều người sơ tâm tưởng rằng không cần phải xử dụng các phương pháp thiền, như thiền chỉ hay thiền quán, thiền động hay thiền tĩnh…Không cần phải tham công án hay khán thoại đầu, chỉ sống tự nhiên, đi đứng bình thường cũng… là thiền! Người có trải nghiệm sẽ biết rằng, trạng thái “đi đứng nằm ngồi cũng là thiền” là “kết quả” có được sau khi tu tập thành tựu, chứ không phải là “nguyên nhân” sinh khởi trạng thái thiền. Cũng như vậy “Sống trong hiện tại” là thành tựu, là kết quả, của việc nhập thiền chứ không phải là nguyên nhân hoặc là phương pháp để thực hành thiền (thiền tông Trung Quốc). Tóm lại “thiền không cần tọa thiền” chỉ là đặc điểm của một vài pháp môn giữa rất nhiều pháp môn.
Nhưng ngồi thiền vẫn là tư thế quen thuộc và hiệu quả nhất:

Tư thế ngồì thoải mái vững chắc là điều kiện tốt để thiền (cả Thiền Định lẫn Thiền Quán). Đứng thì dễ vọng động (trạo cử). Nằm thì dễ buồn ngủ (hôn trầm). Những cơn định sâu và kéo dài bắt buộc phải thực hiện trong tư thế ngồi. Đức Phật đã từng nhập sâu vào thiền định với thời gian 49 ngày trong tư thế ngồi. Chỉ ở tư thế ngồi kiết già hoặc bán già, thiền sư mới không bị ngã (tới trước hay sau) khi nhập sâu vào thiền định. Đạo Phật nguyên thủy cần những bậc định “sâu” hơn (để dễ thực hành 16 tầng tuệ quán sau này), lúc đó ngồi nhất định là tư thế cần thiết. Cũng nên nói thêm, rằng tư thế ngồi chỉ cần vững vàng và thẳng lưng là đủ. Ngồi thiền không lệ thuộc các kiểu xếp của chân. Mọi chuyển biến của tâm xảy ra trên đầu chứ không xảy ra ở hai chân.
Thiền không là lối đi tắt

Đây là vấn đề còn mãi trong sự tranh luận về ý nghĩa giữa pháp môn Đốn (immediate) và pháp môn Tiệm (gradual). Thiền tông cho rằng pháp môn của mình là Đốn giáo, nghĩa là có thể dẫn môn sinh kiến tánh thành Phật rất nhanh. Đốn ngộ là ngộ rất đột ngột, thường được diễn đạt là “hốt nhiên đại ngộ”. Cũng trong lí luận đó, suy ra các pháp môn khác là Tiệm giáo, cần thời gian rất lâu dài để đi đến chứng đắc. Nói rằng “đốn”, nhưng mỗi con người, ai cũng đã từng tiến hóa qua bao nhiêu đời kiếp. Nói cách khác, luôn luôn đã có một quá trình chuẩn bị của đời này hay từ nhiều đời trước, trước khi đốn ngộ. Vậy thực có một sự kiện gọi là “đốn” hay không! Còn một vấn đề nữa phải đặt ra “đốn ngộ” là sơ ngộ hay đại ngộ? “Kiến tánh thành Phật” là lúc sơ ngộ hay đại ngộ cũng thực sự còn là một vấn đề tranh cãi. Thiển nghĩ, “thấy tánh” là mới biết ngõ vào thôi, còn “nhập tánh” thì mới thành Phật được Tương tự như vậy Mật tông hay Thiền tông cũng không phải là lối tu tắt như nhiều người thường nghĩ! Mượn lời nói của Osho: Một điều cần nhớ, rằng thiền là một chuyến đi dài, không có ngõ tắt. Ai nói rằng có lối đi tắt, tức người đó đã lừa dối bạn… Bởi vậy khi bắt đầu hành thiền, bạn đừng kì vọng gì quá mức. Nếu không kỳ vọng bạn sẽ không phải thất vọng. Thiền không phải là những mùa hoa sáu tháng một lần. Thiền là cây đại thụ phải cần thời gian để vươn rễ vào sâu lòng đất. Thiền không có lối đi tắt. Tất cả đều phụ thuộc vào nghiệp, vào bộ gene của cơ thể, vào cấu trúc bẩm sinh của sinh lý thần kinh. Bạn nhập thiền dễ hơn người khác vì trước đó (kiếp trước) bạn đã từng thực tập nhiều rồi. Bạn thiền có được kết quả nhiều hay ít là vì bạn đã tiến hóa nhiều hay ít trên con đường tiến hóa của vũ trụ kể từ thủa ban sơ.
Tóm lại

Thiền gồm nhiều phương pháp và mang nhiều nội dung khác biệt. Nên hiểu Thiền như là phương tiện của nhiều tôn giáo, của nhiều pháp môn. Thiền có thể là “Thuật” bước vào Tâm. Thiền có thể là “Đạo” trong ý nghĩa tự thân của nó. Thiền có thể là cách tiếp cận với Chúa trời của một số các tôn giáo thần khải. Thiền có thể là cách điều khiển khí lực và năng lượng của Yoga trong mục đích chuyển hóa tâm linh. Thiền là “công cụ tâm linh” dùng để thám sát và tìm hiểu thế giới nội tâm (cũng giống như khoa học dùng các loại “công cụ khoa học” để thám sát và tìm hiểu thế giới bên ngoài). Cuối cùng, nếu bạn là một Phật tử, phải nhớ rằng con đường tu hành của Đức Phật chính là pháp thực hành thiền (bhavana) gồm Thiền Chánh Niệm (satibhavana), Thiền Định (Samadhi) và Tuệ Quán (Vipassana), dù rằng những phương pháp này ngày nay không còn được các “Đạo Phật phát triển” nhắc đến. Thiền của Đức Phật Gautama có phương pháp rõ ràng còn có thể tham cứu trong Kinh và Luận. Thiền của Đức Phật Gautama có những tiêu chuẩn cho các tầng thiền, các quả vị, các tầng bậc chứng đắc, nhờ vậy hành giả có thể biết mình đang đi trên đạo lộ nào (đúng hay sai) và đang đứng tại đâu (mức độ nào). Nhờ sự minh bạch rõ ràng đó, những nổ lực của Phật tử sẽ không bị hoài phí.

(Sưu tầm)
__________________
Hạnh Phúc thay ! Mỗi sớm mai thức dậy,lại có thêm một ngày để yêu thương .

thay đổi nội dung bởi: tuanvu_quynh1949, 08-09-2012 lúc 9:41 pm.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 4 người đã gửi lời cảm ơn đến tuanvu_quynh1949 vì bài post hữu ích này:
13cdmitriy (07-10-2012), hoangmusic (29-10-2012), hung_btre (01-11-2012), thien thu 2 (08-09-2012)
Old 28-10-2012, 5:08 pm  
ngochoa
Senior Member
 

Default
khi bạn thấy cần thiết phải thiền để diệt khổ, rồi đến lúc bạn thiền mà không biết mình đang thiền nữa thì bạn đã hết khổ

khi bạn thấy mình không khổ, không ai bảo bạn khổ hết, không ai nghĩ bạn khổ hết thì tứ diệu đế không còn cần với bạn nữa
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là 2 người đã gửi lời cảm ơn đến ngochoa vì bài post hữu ích này:
hoangmusic (29-10-2012), hung_btre (01-11-2012)
Old 02-11-2012, 11:24 am  
thien thu 2
Senior Member
 

Default
Tản mạn về "sự yên lặng" cũa thiền định:

1. Nếu việc "hành thiền" đi đến tình trạng "định" để đạt sự yên lặng thì sự yên lặng không nhất thiết chờ đến thiền mới có được:

a. Sư Th G. Nh. ... định nghĩa sự "yên lặng là tiếng động không ngừng" với bài thơ "Giòng sông Yên lặng" rất hay nhưng rồi lại cho ra một pháp đặt tên là "Pháp Thiền Yên lặng" mà chủ yếu là dùng hơi nóng ( như xong hơi, hoặc phơi nắng trong lều) để ... làm cho bộ não... thông khí, thông địa và mở luân xa. Tức là cũng phải thiền mới yên lặng được.

b. Đạo sư DT giảng trong "Thiền Minh Triết" rằng sự yên lặng là "nền" ( background) của tất cả các loại tiếng động;và có thể quán sự yên lặng bằng cách quan sát, phân biệt, và tách tiếng động ra thì sẽ thấy được cái background nầy, tức "nghe thấy" sự yên lặng! Có nghĩa cũng là "hành thiền" mới có sự yên lặng, dù là chỉ cần một thời gian rất ngắn để quán sự cho được sự yên lặng.

2. Hiện tại, ngoài những nhà nghiên cứu về "hành thiền" như một "động thái cần và đủ" của khu vực tôn giáo hay tâm linh, người ta cho rằng SỰ YÊN LẶNG là một trạng thái sóng não của bộ óc, có được nhờ cách "thư giản thăng hoa" ( ultimate subliminal relaxation) về mặt vật lý và tinh thần là đạt được trạng thái của bộ não có khả năng huy động phần tiềm thức, nhận thức được những biểu lộ ngoài tầm hoạt động của tri thức ( out-of-conscious level manifestations). Và người ta cũng giới thiệu .....tâm lượng tử ( quantum Mind), và cái gọi là "ta lượng tử" ( quantum Self).

Và giới thiệu NHỮNG KỸ THUẬT dùng âm nhạc hay những kỹ thuật ngoài âm nhạc, như cách thư giản thăng hoa nói trên, để đi đến tình trạng Tâm lượng tử của bộ não qua việc nâng cao sóng não lên cao hơn tần số alfa, mà không nói đến .... thiền kiểu nhất tâm bất loạn!

Mọi thứ đều " FOC" trên INTERNET !! "Mại dô"

Thiên thu ,
Người thày lay!!

thay đổi nội dung bởi: thien thu 2, 02-11-2012 lúc 11:32 am.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến thien thu 2 vì bài post hữu ích này:
ngochoa (02-11-2012)
Old 02-11-2012, 1:24 pm  
ngochoa
Senior Member
 

Default
thiền và định là 2 từ luôn đi kèm với nhau, thiền là phương tiện, định là mục đích

nhưng không dễ gì đạt được định nên thiền bị ghép với (hoặc bị diễn đạt) những mục đích "dễ xơi" hơn như thiền động, thiền tĩnh, thiền vui vẻ, thiền phê phê, thiền ăn, thiền ngủ, thiền kiếm xiền, thiền tán gái vv...

dưới sẽ copy 2 tư tưởng từ net để làm dõ

+ công đức: thân người tu hành đạt tới cảnh giới rồi giúp tâm thức chúng sinh tự phát triển (tất nhiên trong đó đã có não bộ mình ngon lành trước tiên)

+ phước đức: mang thân đưa vật chất (tiền cúng, lao động công ích từ thiện vv..) cho chúng sinh để chúng sinh phát triển vật chất

thiền định sẽ đạt công đức (công đức cho tất cả), còn thiền thập cẩm sẽ đạt phước đức (phước đức hầu hết cho cá nhân thôi)
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 02-11-2012, 5:48 pm  
liem0962
Senior Member
 
liem0962's Avatar
 

Default
Thiền định dưới ánh sáng khoa học
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là người đã gửi lời cảm ơn đến liem0962 vì bài post hữu ích này:
ngochoa (02-11-2012)
Old 02-11-2012, 6:51 pm  
ngochoa
Senior Member
 

Default
Trích:
Nguyên văn bởi liem0962 View Post
Thiền định dưới ánh sáng khoa học --------> thiền định dưới ánh sáng tâm linh --------> thiền định dưới ánh sáng ban ngày --------> thiền định dưới ánh sáng ban đêm --------> thiền định dưới ánh sáng nội tâm --------> thiền định dưới ánh áng --------> thiền định --------> định --------> thiền --------> ko cần thiền mà như thiền
Trả Lời Với Trích Dẫn
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời


Những đề tài tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Trí Tuệ Tế Bào thatsonphutu Thư giản - Linh tinh 24 28-05-2013 12:52 pm
Bảy định luật về Năng lượng siêu nhiên. Nhat nguyen Tâm linh 3 16-05-2009 7:08 pm
Giáo sư 82 tuổi truyền ngoại ngữ bằng Thiền tuanngan Thư giản - Linh tinh 1 10-03-2009 10:01 am
Thiền định toàn cầu????? linhchichchoe Thiền 1 08-03-2009 6:36 pm
Thiền định đón chào năm mới. tim Những quan tâm của bạn về ngành Nhân Điện 1 30-12-2007 11:01 am

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



UE-GLOBAL.COM
Powered by vBulletin & vBadvanced CMPS
Copyright © 2000 - 2018, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBulletin Skin developed by: vBStyles